Bản án 11/2019/HS-PT ngày 12/04/2019 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG

BẢN ÁN 11/2019/HS-PT NGÀY 12/04/2019 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 12 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 17/2019/TLPT-HS ngày 20 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo Liễu Huy T do có kháng cáo của bị hại Liễu Văn T1 đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 71/2018/HS-ST ngày 02 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

Bị cáo bị kháng cáo:

Liễu Huy T (tên gọi khác: Liễu Văn T), sinh năm 1962 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: Lớp 03/10; dân tộc: Sán Dìu; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Liễu Văn V và bà Lý Thị N (đều đã chết); có vợ Bùi Thị Q, sinh năm 1962 và 04 con, con lớn sinh năm 1984, con nhỏ sinh năm 1989; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Bản án số 54/PTHS ngày 08/9/1995 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xử phạt Liễu Huy T (Liễu Văn T) 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Đã chấp hành xong bản án. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

- Bị hại có kháng cáo: Anh Liễu Văn T1, sinh năm 1994;

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (có mặt).

- Người đại diện theo ủy quyền của bị hại: Ông Ngô Quang Đ, sinh năm 1982.

Nơi cư trú: Tổ dân phố Tân Thịnh, thị trấn Sơn Dương, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Liễu Văn L, sinh năm 1963;

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (có mặt).

2. Anh Liễu Văn Q2, sinh năm 1986;

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (vắng mặt).

- Người làm chứng:

1. Chị Nông Thị S, sinh năm 1970;

Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

2. Anh Nông Văn S1, sinh năm 1981;

Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

3. Anh Phùng Văn T, sinh năm 1994;

Nơi cư trú: Thôn Móc Dòm, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

4. Anh Dương Văn M, sinh năm 1973;

Nơi cư trú: Khu 1, Đồng Cù, xã Bồ Lý, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.

(Đều vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 26/5/2018, Liễu Huy T điều khiển xe mô tô đến quán của chị Nông Thị S tại thôn N, xã T, huyện S để uống nước mía. Khi đến Liễu Huy T thấy Liễu Văn T1 (là cháu họ của T) và anh Phùng Văn T, anh Nông Văn S1, anh Dương Văn M đang đánh bi-a tại quán của chị S. Liễu Huy T vào quán gọi cốc nước mía và nằm trên võng uống nước mía, T1 đến ngồi gần nói: “Trước đây bác với bố cháu có chút chuyện thì cho cháu xin lỗi”, T nói: “Biết rồi thì thôi, chấp làm cái gì, không nói nữa”, T1 nói: “Cá mè với cá gáy như nhau”, T không nói gì, đứng dậy cất cốc nước mía thì T1 nói: “Đi nhanh còn kịp”, T nói: “ Tao không đi nhanh thì mày làm gì tao, mày định đánh tao thì mày đánh mẹ mày đi”. Hai bên cãi chửi nhau, sau đó, T đi ra xe mô tô dựng ở sân quán nhà chị S mở cốp xe mô tô lấy 01 đoạn dây xích bằng kim loại, cầm tay phải lao vào vụt đánh T1 đang đứng ở bàn bi-a, T cầm dây xích vụt liên tiếp nhiều nhát theo hướng khác nhau trúng vào người T1, T1 bị đánh giơ tay trái lên đỡ và lùi lại cầm đoạn gậy bi- a vụt một nhát vào vai trái T thì mọi người chạy đến can ngăn. Tỵ đi ra xe mô tô nói: “Tao về tao bảo thằng Q lên cho mày một trận” rồi T điều khiển xe mô tô đi về nhà con trai của T là Liễu Văn Q2, gặp Q2, T nói với Q2: “Con nhà L nó đánh tao, mày lên lôi cổ nó ra để tao đập cho nó một trận”. Sau đó T điều khiển xe mô tô chở Q2 ngồi sau đến nhà chị S, thấy T1 đang ngồi ở bàn uống nước tại sân quán. Q2 đi đến chỗ T1 ngồi, tay trái cầm vào tay phải T1, kéo T1 đứng dậy, tay phải Q2 rút thắt lưng bằng da đeo ở quần ra, cầm vào mặt thắt lưng bằng kim loại và cầm đầu dây thắt lưng còn lại, gập đôi lại vung lên vụt 02 nhát theo hướng từ trên xuống, trúng vào vai trái của T1, Q2 nói: “Mày có biết ai đây không, bố mày còn chả dám láo, còn chả dám đánh bác mày, mày còn dám đánh bác mày”. Khi đó T cầm dây xích bằng kim loại trên tay lao vào tiếp tục vụt 01 phát trúng vào người T1. Bị đánh, T1 quỳ xuống xin lỗi và được mọi người can ngăn thì sự việc chấm dứt. Sau đó Liễu Văn T1 được đưa đến điều trị tại Bệnh viện đa khoa H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, từ ngày 26/5/2018 đến ngày 31/5/2018.

Tại kết luận pháp y về thương tích số 117/2018TgT ngày 15/6/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Tuyên Quang kết luận đối với thương tích của anh Liễu Văn T1: Nhiều vết sẹo nhỏ vùng ngực, bụng, lưng, cánh tay trái. Các thương tích là do vật tầy tác động gây nên. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 4% (Bốn phần trăm).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2018/HS-ST ngày 02 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang đã quyết định:

Căn cứ vào: Điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Liễu Huy T phạm tội: Cố ý gây thương tích.

Xử phạt: Bị cáo Liễu Huy T (Liễu Văn T) 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thử thách 18 (mười tám) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (02/11/2018).

Giao bị cáo Liễu Huy T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang nơi bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về bồi thường dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 590 và Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015:

Buộc bị cáo Liễu Huy T phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho anh Liễu Văn T1 số tiền là 14.705.000 đồng (Mười bốn triệu bảy trăm linh năm nghìn đồng). Được trừ số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) bị cáo đã bồi thường. Bị cáo còn phải bồi thường số tiền 9.705.000 đồng (Chín triệu bảy trăm linh năm nghìn đồng).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 15 tháng 11 năm 2018, bị hại Liễu Văn T1 có đơn kháng cáo với các nội dung:

- Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết “có tính chất côn đồ” để xử phạt bị cáo Tỵ 09 tháng tù cho hưởng án treo là không đúng quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Bỏ lọt tội phạm, trong vụ án có anh Liễu Văn Q2 cùng tham gia đánh nhưng không bị truy tố. Về mức bồi thường dân sự không thỏa đáng. Tòa án cấp sơ thẩm không buộc anh Quyền phải liên đới bồi thường.

Vì vậy, đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, trả lại hồ sơ cho cấp sơ thẩm để điều tra bổ sung, khởi tố thêm đối với Liễu Văn Q2.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại Liễu Văn T1 trình bày: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm giữa anh và bị cáo đã thống nhất thỏa thuận được việc bồi thường dân sự. Vì vậy, anh đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm cho anh rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và rút toàn bộ nội dung đơn kháng cáo.

Bị cáo Liễu Huy T nhất trí với trình bày của anh Liễu Văn T1, không có ý kiến gì khác.

Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang phát biểu quan điểm:

- Về thủ tục tố tụng đảm bảo đúng quy định pháp luật; đơn kháng cáo của bị hại hợp lệ trong hạn luật định; thủ tục giải quyết vụ án đúng trình tự tố tụng.

- Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết liên quan đến vụ án trên cơ sở các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, đánh giá vai trò, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xét xử bị cáo Liễu Huy T (Liễu Văn T) về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng người, đúng tội, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bị hại Liễu Văn T1 đã tự nguyện rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án và rút toàn bộ nội dung đơn kháng cáo. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 155; điểm d khoản 1 Điều 355; Điều 359 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bản án sơ thẩm và Đình chỉ vụ án.

Trả lại cho bị cáo Liễu Huy T số tiền 10.390.000đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

Bị cáo không phải chịu án phí, bị hại Liễu Văn T1 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Đề nghị Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang xem xét xử phạt vi phạm hành chính đối với Liễu Huy T và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 26/5/2018, tại quán bi-a của gia đình chị Nông Thị S thuộc thôn N, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, Liễu Huy T (Liễu Văn T) có hành vi dùng dây xích bằng kim loại (là hung khí nguy hiểm) vụt nhiều nhát vào người anh Liễu Văn T1, gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 4% (Bốn phần trăm).

[2] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và nội dung kháng cáo của bị hại thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác; xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương. Tuy nhiên, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm giữa bị cáo và bị hại đã thỏa thuận được với nhau về trách nhiệm bồi thường dân sự nên tại phiên tòa phúc thẩm bị hại Liễu Văn T1 đã tự nguyện rút yêu cầu khởi tố vụ án và rút toàn bộ nội dung kháng cáo.

Xét, việc bị hại Liễu Văn T1 rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và rút toàn bộ nội dung kháng cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Sự việc bị cáo Liễu Huy T có hành vi dùng dây xích bằng kim loại vụt nhiều nhát vào người anh Liễu Văn T1 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 4% cho anh Liễu Văn T1 là hành vi trái pháp luật và thuộc trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại, do đó các cơ quan tiến hành tố tụng huyện S, tỉnh Tuyên Quang tiến hành khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử bị cáo T về tội Cố ý gây thương tích là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bị hại Liễu Văn T1 xin rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và rút toàn bộ nội dung kháng cáo, việc xin rút các yêu cầu trên của bị hại là hoàn toàn tự nguyện, không phải do bị ép buộc, cưỡng bức, vì vậy cần chấp nhận đề nghị của anh Liễu Văn T1, hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án. Việc hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án không phải do lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm mà do bị hại Liễu Văn T1 đã rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

[3] Về số tiền 10.390.000đồng (mười triệu ba trăm chín mươi nghìn đồng) bị cáo Liễu Huy T đã nộp tại biên lai số 0000031 ngày 11/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện S, tỉnh Tuyên Quang mục đích để bồi thường cho bị hại, xét thấy cần trả lại cho bị cáo để bị cáo thực hiện việc bồi thường cho bị hại theo thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại.

[4] Xét bị cáo Liễu Huy T (Liễu Văn T) tuy không bị xử lý về hình sự (lý do vụ án bị đình chỉ do bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án) nhưng hành vi của bị cáo phải bị xem xét xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực: An ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình. Vì vậy, đề nghị người có thẩm quyền thuộc Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang tiến hành xem xét xử phạt vi phạm hành chính đối với Liễu Huy T và xử lý số vật chứng đã thu giữ theo quy định của pháp luật.

[5] Về án phí: Bị cáo Liễu Huy T không phải chịu án phí, bị hại Liễu Văn T1 phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 2 Điều 155; điểm d khoản 1 Điều 355; Điều 359 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận đề nghị xin rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và rút toàn bộ nội dung kháng cáo của bị hại Liễu Văn T1.

1. Hủy bản án sơ thẩm số 71/2018/HSST ngày 02/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang và Đình chỉ vụ án.

2. Trả lại cho bị cáo Liễu Huy T (Liễu Văn T) số tiền 10.390.000đ (Mười triệu ba trăm chín mươi nghìn đồng) đã nộp tại biên lai số 0000031 ngày 11/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo Liễu Huy T không phải chịu án phí. Bị hại Liễu Văn T1 phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

4. Đề nghị người có thẩm quyền thuộc Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang xem xét xử phạt vi phạm hành chính đối với Liễu Huy T (Liễu Văn T) và quyết định xử lý số vật chứng đã thu giữ theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (12/4/2019)./.


29
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 11/2019/HS-PT ngày 12/04/2019 về tội cố ý gây thương tích

Số hiệu:11/2019/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Tuyên Quang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:12/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về