Bản án 112/2018/HNGĐ-ST ngày 01/11/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 112/2018/HNGĐ-ST NGÀY 01/11/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 01 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 436/2018/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2018 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2018; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hồ Thanh L, sinh năm 1982; xin vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Trương Văn T, sinh năm 1982; xin vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Ấp L Th, xã L H, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Hồ Thanh L trình bày:

Chị và anh T chung sống với nhau vào năm 2004, không tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L H vào năm 2006. Vợ chồng có cuộc sống tự lập. Cuộc sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn từ nhiều năm, nguyên nhân do anh T không lo cho kinh tế của gia đình, thường xuyên uống rượu về nhà kiếm chuyện cải nhau với chị và đánh chị nhưng không gây thương tích. Chị tự dọn về nhà cha, mẹ chị sống và vợ chồng tự sống ly thân từ tháng 01/2018 đến nay. Nay chị yêu cầu được ly hôn anh T.

Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung tên: Trương Anh K, sinh ngày 30-11-2004, đang theo sống với chị. Trương Anh T, sinh ngày 28-6-2006, đang theo sống với anh T.

Khi ly hôn, chị yêu cầu tiếp tục nuôi cháu K, anh T nuôi cháu T, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Theo các lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Trương Văn T trình bày:

Nhận thấy, anh T thừa nhận lời trình bày của chị L về thời gian chung sống, có đăng ký kết hôn, thời gian ly thân, con chung, tài sản chung, nợ chung là đúng. Vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chính là về kinh tế. Ngoài ra, trong lúc cải nhau anh giận quá có đánh chị L. Nay anh đồng ý ly hôn chị L.

Về con chung: Con theo ai thì người đó nuôi, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xem xét, quyết định:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Hồ Thanh L được ly hôn anh Trương Văn T.

Về con chung: Giao chị L nuôi dưỡng cháu Trương Anh K, sinh ngày 30- 11-2004. Giao anh T nuôi dưỡng cháu Trương Anh T, sinh ngày 28-6-2006. Ghi nhận chị L, anh T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

[1] Về tố tụng: Chị Hồ Thanh L và anh Trương Văn T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh T chung sống với nhau vào năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L H vào năm 2006. Vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và tự sống ly thân từ tháng 01/2018 đến nay.

Nay chị L yêu cầu ly hôn và anh T cũng đồng ý ly hôn. Qua đó cho thấy hôn nhân của chị L và anh T lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị L được ly hôn anh T theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Xét thấy chị L có yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng cháu Trương Anh K, sinh ngày 30-11-2004, cháu K cũng có nguyện vọng theo sống với chị L. Vì vậy, có căn cứ giao chị L tiếp tục nuôi cháu K; cháu Trương Anh T, sinh ngày 28-6-2006 đang theo sống với anh T, cháu T có nguyện vọng theo sống với anh T. Anh T trình bày con theo ai người đó nuôi, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con. Vì vậy, giao anh T tiếp tục nuôi cháu T; ghi nhận chị L, anh T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị L và anh T không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

[5] Như phân tích trên thì đề nghị của Viện kiểm sát về quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở chấp nhận.

[6] Án phí: Chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chị Hồ Thanh L được ly hôn anh Trương Văn T.

2. Về con chung: Giao chị Hồ Thanh L tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trương Anh K, sinh ngày 30-11-2004.

Giao anh Trương Văn T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trương Anh T, sinh ngày 28-6-2006.

Ghi nhận chị L, anh T không cấp dưỡng nuôi con.

Chị L, anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

4. Án phí: Chị Hồ Thanh L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016266 ngày 27 tháng 7 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; chị L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Báo cho chị L, anh T biết có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.


40
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 112/2018/HNGĐ-ST ngày 01/11/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:112/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trảng Bàng - Tây Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:01/11/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về