Bản án 113/2018/HS-ST ngày 19/04/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 113/2018/HS-ST NGÀY 19/04/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 19 tháng 4 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 112/2018/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:114/2018/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nạ Văn T. Tên gọi khác: Không; sinh năm 1984. Tại: Điện Biên.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Bản P, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.

Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Cống; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nạ Văn C (đã chết) và con bà: Nạ Thị P; Bị cáo có 01 người con sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị bắt tạm giữ, giam từ ngày 28/12/2017. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 28/12/2017, Nạ Văn T đi bộ từ nhà lên khu vực rừng thuộc bản P, xã Pa T, huyện Điện Biên để lấy cây mây. Khoảng 14 giờ cùng ngày, T mang bó mây lấy được xuống đường thì gặp một người phụ nữ T không biết tên và địa chỉ hỏi mua cây mây của T. T trả lời không bán mà chỉ mang đổi lấy ma túy để sử dụng. Người phụ nữ đồng ý đổi ma túy với T và lấy trong túi đang đeo trên người ra một gói heroine đưa cho T. T nhận gói heroine cất vào túi quần phía trước bên phải đang mặc. Hồi 16 giờ cùng ngày, khi T đang đi bộ về nhà đến khu vực K, xã P, huyện Điện Biên thì bị tổ công tác Đồn Biên phòng Pa Thơm phối hợp với Công an huyện Điện Biên kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong túi quần phía trước bên phải T đang mặc 01 gói heroine được gói ngoài bằng nilon màu trắng.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 29/12/2017 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên và bản Kết luận giám định số: 223/GĐ - PC54 ngày 19/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã xác định số vật chứng thu giữ của Nạ Văn T là chất ma túy loại heroine có khối lượng 0,61 gam.

Tại bản Cáo trạng số 59/QĐ -VKS - HS ngày 21/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên đã truy tố bị cáo Nạ Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" đề nghị Hội đồng xét xử ap dụng Khoản 3 Điều 7; Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết 41/2017/QH 14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội khóa XIV. Xử phạt bị cáo Nạ Văn T từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015; Điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu hủy 0,61 gam heroine (Đã trích 0,21 gam gửi giám định không hoàn lại). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS năm 2015; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận, hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã xuất trình những chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 28/12/2017, Bị cáo Nạ Văn T đã có hành vi đổi cây mây cho một người phụ nữ bị cáo không biết tên và địa chỉ được 0,61 gam heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân, khi đang trên đường về nhà đến khu vực Cảnh Khậy, xã Pa Thơm, huyện Điện Biên thì bị tổ công tác Đồn Biên phòng Pa Thơm phối hợp với Công an huyện Điện Biên phát hiện và thu giữ toàn bộ vật chứng. Với khối lượng 0,61 gam heroine bị cáo cất giấu với mục đích để sử dụng cho bản thân thì hành vi đó của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 và Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

[2.1] Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện trước 0 giờ ngày 01 tháng 01 năm 2018 nhưng tại thời điểm xét xử, Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 đã có hiệu lực pháp luật. Theo quy đinh tai   khoản 1 Điêu
194/BLHS năm 1999 có khung hình phạt từ 02 năm tù đến 07 năm tù. Nhưng với khối  lượng  heroine bị  cáo tàng trữ  theo quy định tại  Điểm c Khoản  1  Điều 249/BLHS năm 2015 có khung hình phạt từ 01 năm tù đến 05 năm tù. So với Bộ luật hình sự năm 1999 thì quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 có lợi cho bị cáo. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản 3 Điều 7/BLHS năm 2015 và Điểm h Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH 14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xét xử đối với hành vi phạm tội của bị cáo.

Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đơn giản, chỉ do nghiện ma túy nên đã đi mua ma túy để sử dụng cho bản thân mà không có mục đích nào khác. Tuy nhiên, hành vi đó của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma tuý, làm ảnh hưởng đến nền trật tự trị an, an toàn trong xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự trước pháp luật.

[4] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS năm 2015.

[5] Sau khi xem xét về hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải áp dụng một hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo là hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện cai nghiện đồng thời để giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS năm 2015, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xong xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, thu nhập chính từ làm ruộng ngoài ra không có nguồn thu nào khác nên không có khả năng thi hành. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Bị cáo đã khai nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là do bị cáo đổi của một người phụ nữ, bị cáo không biết tên và địa chỉ. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không có cơ sở để điều tra làm rõ được. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Vật chứng: Gồm 0,61 gam heroine (Đã trích 0,12 gam gửi giám định không hoàn lại) cần bị tịch thu tiêu huỷ theo điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015; Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS năm 2015.

[9] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136/BLTTHS năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tuy nhiên gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn ,nên theo quy định tại điểm  đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 3 Điều 7; Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51/ BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH 14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội khóa XIV.

1. Tuyên bố: Bị cáo Nạ Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"

2. Xử phạt bị cáo Nạ Văn T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 28/12/2017. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án
 
3. Vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015; Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ 0,61 gam heroine (Đã trích 0,12 gam gửi giám định không hoàn lại) Vật chứng đã được Công an huyện Điện Biên bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên theo biên bản bàn giao vật chứng giữa Công an huyện Điện Biên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên ngày 02/04/2018.

4.   Án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (19/4/2018)


42
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về