Bản án 115/2019/HSST ngày 09/04/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH TH

BẢN ÁN 115/2019/HSST NGÀY 09/04/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 09 tháng 04 năm 2019, tại hội trường Tòa án nhân dân thành phố Th, tỉnh Th xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 117/2019/HSST, ngày 01 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2019/QĐXXST-HS ngày 27/3/2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc L, Sinh ngày 02/8/1974; (Tên gọi khác: Nguyễn Văn L, Nguyễn Thành L); Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Tổ 12, phường Tân Thịnh, thành phố Th, tỉnh Th; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 5/10; Nghề nghiệp: Không; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông: Nguyễn Quế Phúc và con bà: Nguyễn Thị Ngọc ( đều đã chết) ; Gia đình có 2 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

+ Năm 1993 Nguyễn Ngọc L bị Công an thành phố Th xử lý hành chính về hành vi “hút thuốc phiện”.

+ Tại Bản án số 71 ngày 09/02/1996 của Tòa án nhân dân thành phố Th, tỉnh Th xử phạt Nguyễn Ngọc L 06 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản của công dân”, đã chấp hành xong án phí.

+ Tại Bản án số 109 ngày 15/6/1998 của Tòa án nhân dân tỉnh Th xử phạt Nguyễn Ngọc L 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; 12 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hình phạt chung cho cả hai tội là 15 năm tù, Ra trại ngày 04/4/2012, chấp hành xong khoản tiền phạt ngày 30/9/2008.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Th từ ngày 24/11/2018 đến nay ( Có mặt tại phiên tòa).

Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1957 (Vắng mặt tại phiên tòa)

HKTT: Tổ 12, phường Tân Thịnh, thành phố Th, tỉnh TN.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 9 giờ, ngày 24/11/2018, tổ công tác cua Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Th làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát trên địa bàn phát hiện tại khu vực đường Phú Thái, thuộc tổ 12, phường Tân Thịnh, thành phố Th, có 01 người đàn ông có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác đã tiếp cận, yêu cầu kiểm tra người đàn ông khai tên là Nguyễn Ngọc L và tự giác lấy từ túi quần phía trước bên phải L đang mặc ra 03 gói giấy bạc màu trắng bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng và bên trong gói giấy bạc màu trắng có 01 mảnh viên nén màu hồng ( L khai là Heroine và ma túy tổng hợp). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người có phạm tội quả tang đối với L, niêm phong thu giữ vật chứng theo quy định.

Tiến hành mở niêm phong cân xác định:

- Số chất bột màu trắng trong 03 gói giấy màu trắng có khối lượng 0,219 gam.

- Mảnh viên nén màu hồng trong 01 gói giấy bạc màu trắng có khối lượng 0,029 gam.

Tại Kết luận giám định số 62/KL-PC09 ngày 30/11/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Th kết luận:

Chất bột màu trắng thu giữ của L là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,219 gam;

Mảnh viên nén màu hồng, thu giữ của L là chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,029 gam;

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Ngọc L khai nhận: Toàn bộ số ma túy mà Cơ quan công an thu giữ khi bắt quả tang là của L mua của một người phụ nữ không quen biết vào khoảng 8 giờ 30 phút ngày 24/11/2018 tại khu vực chợ Bầu, phường Gia Sàng, thành phố Th với giá 150.000 đồng. L mua ma túy để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không có mục đích gì khác.

Tại bản cáo trạng số 116/CT-VKSTPTN ngày 27/02/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Th đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc L về tội ” Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015.

Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Th trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: Điểm i, khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS, xử phạt: bị cáo Nguyễn Ngọc L từ 30 đến 36 tháng tù giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo L.

- Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015, Điều 106 BLTTHS năm 2015 xử lý vật chứng theo quy định.

- Áp dụng Điều 136 BLTTHS 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp án phí HSST vào ngân sách nhà nước.

Trong phần tranh luận bị cáo L không tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo L nói lời sau cùng xin được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an, cơ quan Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên thành phố Th trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án. Với chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 09 giờ ngày 24/11/2018, tại khu vực đường Phú Thái, thuộc tổ 12 phường Tân Thịnh, thành phố Th, Nguyễn Ngọc L đang có hành vi tàng trữ 0,219 gam Heroine và 0,029 gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an thành phố Th phát hiện và lập biên bản bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc L đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Th truy tố bị cáo về tội danh và hình phạt viện dẫn là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Điều 249 BLHS quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy ... thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a...

i,. Có 2 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng.... các chất đó tương đương với khối lượng.... chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ b đến điểm h khoản này ”.

[3] Xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi ma túy hủy hoại sức khỏe con người, là nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước.Việc đưa ra xét xử đối với bị cáo là cần thiết để răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, năm 1998 đã từng bị kết án về tội Mua bán trái phép chất ma túy và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội .Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS. Xét tính chất, mức độ và hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng, cách ly xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt và có ích cho xã hội. Mức hình phạt mà vị đại diện viện kiểm sát đề nghị là phù hợp cần được chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Ngoài hình phạt tù, lẽ ra bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 BLHS, nhưng xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không nghề nghiệp, mua ma túy về sử dụng không mang tính chất vụ lợi. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Vật chứng của vụ án:

Tch thu tiêu huỷ: 01 bì niêm phong theo đúng quy định ký hiệu T bên trong chứa ma túy.

(Vật chứng hiện đang lưu giữ bảo quản tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự thành phố Th, biên bản giao nhận vật chứng số 180 ngày 27/02/2019).

[7] Án phí; Quyền kháng cáo: Bị cáo L phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[8] Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, L khai mua của một người phụ nữ không rõ, lai lịch, ở khu vực chợ Bầu, phường Gia Sàng, thành phố Th. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Th không có cơ sở làm rõ để xử lý.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Đim i, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc L(tức Nguyễn Văn L, Nguyễn Thành L) phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc L : 30( Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 24/11/2018 Áp dụng Điều 329 BLTTHS năm 2015: Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Ngọc L 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 BLHS năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự :

Tch thu tiêu huỷ: 01 bì niêm phong theo đúng ký hiệu T bên trong chứa ma túy.

(Vật chứng hiện đang lưu giữ bảo quản tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự thành phố Th theo biên bản giao nhận vật chứng số 180 ngày 27/2/2019 ).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016, buộc bị cáo Nguyễn Ngọc L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


32
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 115/2019/HSST ngày 09/04/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:115/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thái Nguyên - Thái Nguyên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 09/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về