Bản án 116/2018/HSST ngày 27/11/2018 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN

BẢN ÁN 116/2018/HSST NGÀY 27/11/2018 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 27 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở UBND phường Mỹ Hải, TP. Phan Rang – Tháp Chàm. Tòa án nhân dân TP. Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 105/2018/HSST ngày 22 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2018/QĐXXST-HS ngày 16/11/2018 đối với bị cáo:

NGUYỄN TẤN V, sinh ngày 23/3/1991 tại Ninh Thuận.

Nơi cư trú: khu phố X, phường M, Tp. Phan Rang- Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá: 3/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Tấn Ph, sinh năm 1947(đã chết) và bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1948.

Tiền án; Tiền sự: không.

Bị cáo tại ngoại (có mặt).

* Người bị hại:

Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1991 (có Đơn xin xét xử vắng mặt).

Nơi cư trú: khu phố X, phường Đ, TP. Phan Rang- Tháp Chàm.

* Người làm chứng:

- bà Phạm Thị D, sinh năm 1955 (vắng mặt).

- anh Trịnh Minh V, sinh năm 1982 (vắng mặt).

Cùng trú tại: khu phố X, phường M, TP. Phan Rang-Tháp Chàm.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 20 giờ, ngày 30/4/2018, Nguyễn Tấn V và Trịnh Minh V đang ngồi uống bia trước sân nhà anh Minh V, ở khu phố X, phường M, thành phố Phan Rang- Tháp Chàm thì Lê Văn D (K) điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Văn T chạy đến dừng trước nhà anh Minh V, nẹt bô gây tiếng ồn. Thấy vậy, bà Phạm Thị D (mẹ ruột của Minh V) đi ra nói “Đường này nhỏ, trẻ con đông, chạy coi chừng tung vào trẻ nhỏ” thì D trả lời “Đường này tôi thích chạy thì chạy bà làm gì tôi” nên giữa bà D và D to tiếng với nhau. Lúc này anh Trịnh Minh V nói “Tụi mày về đi đứng đó tao ra đánh” thì D nói “Ông thích gì thì ra đây đánh sức một”, nghe vậy anh V lấy 02 vỏ chai bia Miền Trung ném về phía D và T đang đứng nhưng không trúng ai, lập tức D và T nhặt đá ném vào chỗ Tấn V ngồi nhậu. Tức giận Tấn V cầm 02 vỏ chai bia Miền Trung bằng thủy tinh đập vào nhau cho bể, rồi lấy phần cổ chai bia cầm bằng tay phải chạy ra ngoài rượt đuổi đánh D và T, trong lúc T quay lưng bỏ chạy thì bị V đâm một nhát trúng vào cằm bên phải làm chảy máu. Thấy T bị thương nên anh Nguyễn Trọng Trung D (là bạn của D và T) ở gần đó đến can ngăn đưa D (K) và T đi, còn Tấn V và Minh V kéo cửa cổng lại vào trong nhà uống nước trà nói chuyện.

Khong 30 phút sau, Nguyễn Văn T và Nguyễn Tấn Tr cầm theo mã tấu, rựa quay lại nhà anh Minh V thì người dân ở gần đó la lên “Tụi nó xuống kìa, chạy đi”, nghe vậy Tấn V và Minh V bỏ chạy ra phía sau nhà bếp trốn, đồng thời mỗi người lấy một con dao cầm trên tay để phòng thủ. Lúc này, T, Tr chạy vào nhà tìm không thấy Minh V và Tấn V nên dùng mã tấu, rựa đập vỡ 01 tấm kính bàn gỗ, 02 tấm kính cửa sổ và 01 tấm kính cửa tủ bàn thờ. Sợ bị nhóm T tìm thấy đánh nên anh Minh V nói với Tấn V chạy ra sau ruộng trốn, nói xong anh Minh V bỏ chạy, do không còn nghe tiếng kính vỡ, nghỉ rằng nhóm của T đã kéo đi nên Tấn V cầm dao đi lên phòng khách để quan sát thì thấy T cầm mã tấu vừa đi đến đối diện, Tấn V cầm dao giơ lên chém một nhát từ trên xuống trúng vào tay phải của anh T gây thương tích rồi cầm dao bỏ chạy ra phía sau nhà. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phan Rang- Tháp Chàm, Nguyễn Tấn V đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình đồng thời giao nộp con dao gây án cho cơ quan Công an xử lý.

Tại bản kết luận số: 78/TgT ngày 05/7/2018, của Trung tâm pháp y tỉnh Ninh Thuận kết luận: Sức khỏe của anh Nguyễn Văn T bị giảm do thương tích gây nên hiện tại là 13% (một ba phần trăm). Vết thương thể hiện như sau:

+ Vết thương ngang mặt sau 1/3 giữa cẳng tay phải sẹo liền tốt phẳng kích thước (8,5 x 0,2)cm, vận động cẳng tay bình thường.

+ Vận động cổ tay phải còn hạn chế, cầm nắm hạn chế.

+ Vết mổ dọc mặt sau 1/3 giữa cẳng tay phải qua vết thương, sẹo liền tốt phẳng.

+ Vết mổ nối gân duỗi cổ tay trụ và gân duỗi cố tay quay.

+ Vết thương vùng cằm phải lõm sẹo liền kích thước (3,5 x 0,2)cm, há mở miệng bình thường.

Cơ chế hình thành vết thương: Vết thương do vật sắc gây nên.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận diễn biến sự việc xảy ra như nội dung cáo trạng đã truy tố.

Bản Cáo trạng số 106/CT-VKS-PRTC, ngày 19 tháng 10 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo Nguyễn Tấn V về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 (điểm a khoản 1), Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (BLHS, sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 2 (điểm a khoản 1), Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn V từ 18 đến 24 tháng tù, cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách tương ứng. Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Bị cáo không có tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phan Rang - Tháp chàm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp chàm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tấn V khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác thu thập tại hồ sơ vụ án trong quá trình điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp nên có đủ cơ sở để xác định bị cáo đã thực hiện hành vi cụ thể như sau: Khoảng 20 giờ, ngày 30/4/2018, do có mâu thuẫn với anh Nguyễn Văn T nên Nguyễn Tấn V đã dùng một mảnh thủy tinh và một con dao (là hung khí nguy hiểm) đâm, chém trúng vào cằm bên phải và tay phải của anh T gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 13%(Một ba phần trăm). Vì vậy, Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nguyễn Tấn V về tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung là sử dụng hung khí nguy hiểm theo khoản 2 (điểm a khoản 1), Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

[3] Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Tấn V là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần thiết phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy: Bị cáo V là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ nhận thức về việc cố ý gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật. Từ những mâu thuẫn bộc phát, nhất thời, một phần do trước đó có sử dụng rượu bia không kiềm chế được bản thân nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội cũng xuất phát từ một phần lỗi của người bị hại, bị cáo có ông ngoại là liệt sĩ nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Do bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 BLHS quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định để xem xét cho bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, không cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội, chỉ cần áp dụng Điều 65 BLHS để xử phạt bị cáo, chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ có tác dụng giáo dục riêng đồng thời phòng ngừa chung.

[4] Xét quan điểm của Viện kiểm sát về việc định tội và định khung hình phạt đối với bị cáo V, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo là hoàn toàn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội, quan điểm về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự là có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra các bên thỏa thuận mức bồi thường với số tiền 10.000.000đ. Bị cáo đã bồi thường được 7.000.000đ nên bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho người bị hại số tiền còn lại là 3.000.000đ.

Đi với 02 tấm kính cửa sổ, 01 tấm kính bàn gỗ và 01 tấm kính cửa tủ bàn thờ của bà Phạm Thị D đã bị nhóm của Nguyễn Văn T đập vỡ, quá trình điều tra bà D không yêu cầu bồi thường dân sự cũng như về hình sự nên không xem xét xử lý.

[6] Về xử lý vật chứng:

- Đối với mảnh thủy tinh vỏ chai bia, sau khi sử dụng làm hung khí gây án xong Nguyễn Tấn V đã vứt bỏ không xác định được địa điểm nên cơ quan điều tra không truy tìm được.

- Đối với 01 con dao có lưỡi và cán dài 35cm, lưỡi dao màu xám bề mặt rộng nhất của lưỡi dao là 7,5cm, cán màu trắng dài 14cm là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST; Về án phí dân sự sơ thẩm: Do phần trách nhiệm dân sự, quá trình điều tra bị cáo và người bị hại đã thỏa thuận được việc bồi thường nên bị cáo không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 2 (điểm a khoản 1) Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 590 và Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn V phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tấn V 18 (mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án (ngày 27/11/2018).

Giao Bị cáo Nguyễn Tấn V cho Ủy ban Nhân dân phường M, Tp. Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 590 và Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu bồi thường của người bị hại. Buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho người bị hại số tiền còn lại là 3.000.000đ (ba triệu đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

Về xử lý vật chứng: Tuyên tịch thu tiểu hủy: 01 con dao có lưỡi và cán dài 35cm, lưỡi dao màu xám bề mặt rộng nhất của lưỡi dao là 7,5cm, cán màu trắng dài 14cm, theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận ngày 19/10/2018.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Tấn V phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

Án xử sơ thẩm công khai, có mặt bị cáo, quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/11/2018); vắng mặt người bị hại, quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo V).


41
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về