Bản án 117/2017/DS-ST ngày 01/09/2017 về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 117/2017/DS-ST NGÀY 01/09/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VAY TÀI SẢN

Ngày 01 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Thuận An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 156/2017/TLST-DS ngày 18 tháng 4 năm 2017 về Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2017/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 8 năm 2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP TV; địa chỉ: Số 169, đường N, phường Nguyễn B, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông N C D.

Ông N C D ủy quyền cho ông L H Th. Ông Th  ủy quyền lại cho ông P T Đ, sinh năm 1988; địa chỉ: Lầu 5, Tòa nhà 14, Cộng Hòa, Phường 1, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo văn bản ủy quyền ngày 07/3/2017), có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Bà L T B L, sinh năm 1961; địa chỉ: Số 3, khu phố T, phường Bình Nhâm, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện nộp tại Tòa án ngày 14/3/2017, các lời khai trong thời hạn chuẩn bị xét xử người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông P T Đ trình bày:

Ngày 29/8/2014, Ngân hàng TMCP TV có ký hợp đồng tín dụng dưới hình thức Đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng cho bà L T B L vay số tiền 21.000.000 đồng, với lãi suất 3.75%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo hợp đồng tín dụng bà L có trách nhiệm thanh toán số tiền 35.332.000 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm trong 30 tháng như sau: 29 tháng đầu mỗi tháng trả số tiền 1.178.000 đồng, tháng cuối cùng trả 1.170.000 đồng, thanh toán vào ngày 17 hàng tháng, bắt đầu từ ngày 17/10/2014. Thực hiện hợp đồng tín dụng, Ngân hàng đã giao đủ tiền cho bà L, bà L cũng đã thanh toán cho Ngân hàng 05 lần với tổng số tiền 5.898.000 đồng. Tuy nhiên, sau đó bà L không thanh toán cho ngân hàng theo thỏa thuận đã ký kết. Nay, Ngân hàng TMCP TV yêu cầu bà L T B L trả cho Ngân hàng số nợ còn lại như sau: Nợ gốc tới hạn: 28.264.000 đồng; nợ gốc chưa tới hạn: 1.127.156 đồng. Tổng cộng số tiền bà L T B L phải trả là: 29.391.156 đồng.

Tại bản tự khai ngày 05/5/2017  bị đơn bà L T B L trình bày: Bà L thống nhất với trình bày của nguyên đơn về nội dung hợp đồng tín dụng, về số tiền bà L vay; số tiền bà L phải trả và số tiền bà L đã trả cho Ngân hàng là 5.898.000 đồng. Tuy nhiên, sau đó do làm ăn thất bại nên nhiều lần Ngân hàng yêu cầu thanh toán tiền, nhưng bà L không không thanh toán được cho Ngân hàng. Nay, Ngân hàng khởi kiện thì bà L đồng ý thanh toán tiền nợ gốc. Riêng tiền lãi bà L yêu cầu Ngân hàng giảm cho bà.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng trịnh tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng. Riêng bị đơn không chấp hành đúng pháp luật tố tụng.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tòa án đã thông báo và tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn bà L T B L theo đúng quy định tại các tại các Điều 179; Điều 208; Điều 220; Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nhưng bà L không đến Tòa án tham gia phiên tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa. Việc vắng mặt của bà L trong quá trình tố tụng được xem là từ bỏ quyền trình bày, đưa ra chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà L theo quy định tại Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông P T Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Đ theo quy định tại Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo thể hiện bà L T B L hiện đang thường trú tại Số 3, khu phố T, phường Bình Nhâm, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Thuận An theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tồ tụng dân sự.

[3] Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng ngày 29/8/2014 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP TV với bà L T B L thể hiện nội dung: Ngân hàng TMCP TV cho bà L vay số tiền 21.000.000 đồng với lãi suất 3,75%/tháng, trả dần trong 30 tháng, hình thức vay tín chấp, không thế chấp tài sản, mục đích vay để tiêu dùng cá nhân nên quan hệ tranh chấp là tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2005 (nay là Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015).

[4] Về nội dung: Theo nội dung Hợp đồng tín dụng ngày 29/8/2014 thì nguyên đơn Ngân hàng TMCP TV cho bị đơn bà L T B L vay số tiền 21.000.000 đồng, với lãi suất 3.75%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo hợp đồng thì bà L phải trả cho Ngân hàng số tiền 35.332.000 đồng (gồm cả gốc và lãi). Thực hiện hợp đồng, bà L đã nhận đủ số tiền vay và đã thanh toán cho Ngân hàng TMCP TV tiền lãi, tiền gốc được 05 lần với tổng số tiền 5.898.000 đồng đồng, số tiền còn lại bà L không thanh toán cho ngân hàng. Điều này cũng được bà L thừa nhận trong quá trình giải quyết vụ án.

Xét quá trình thực hiện hợp đồng, bà L không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP TV theo thỏa thuận nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng TMCP TV khởi kiện yêu cầu bà L phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền 29.391.156 đồng là có căn cứ chấp nhận.

Qúa trình giải quyết vụ án Ngân hàng TMCP TV không yêu cầu bà L tiếp tục trả tiền lãi theo hợp đồng tín dụng được ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn trên số tiền 29.391.156 đồng mà chỉ yêu cầu Tòa án ghi nhận: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của nguyên đơn và không trái quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bà L đồng ý trả tiền nợ gốc và xin giảm số tiền lãi, nhưng không được Ngân hàng TMCP TV đồng ý nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ phân tích nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP TV đối với bị đơn bà L T B L về việc tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản, buộc bà L phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP TV số tiền 29.391.156 đồng.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về án phí: Bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều  39; Điều 147; Khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 471; Điều 474 Bộ luật Dân sự năm 2005 (nay là Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015);

Căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP TV về việc tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản với bị đơn bà L T B L.

Buộc bà L T B L có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP TV  số tiền 29.391.156 đồng (Hai mươi chín triệu ba trăm chín mươi mốt ngàn một trăm năm mươi sáu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà L T B L phải chịu 1.469.557 đồng (một triệu bốn trăm sáu mươi chín ngàn năm trăm năm mươi bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại cho Ngân hàng TMCP TV  734.779 đồng (Bảy trăm ba mươi bốn ngàn bảy trăm bảy mươi chín đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015037 ngày 10/4/2017 (do ông P T Đ nộp thay) của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


68
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 117/2017/DS-ST ngày 01/09/2017 về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản

Số hiệu:117/2017/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuận An - Bình Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:01/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về