Bản án 119/HNGĐ-ST ngày 08/11/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 119/HNGĐ-ST NGÀY 08/11/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 08 tháng 11 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án Nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 346/TLST–HNGĐ ngày 21 tháng 05 năm 2018 về tranh chấp xin ly hôn. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134/2018/QĐXXST- HNGĐ ngày 25 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết V, sinh năm 1978.

Địa chỉ hộ khẩu thường trú: số 46/15A khóm MT, phường MQ, thành phố LX, tỉnh AG.

Địa chỉ liên lạc: 547/96 Tổ 1, KP7, phường LB, thành phố BH, tỉnh ĐN (Có mặt).

2.Bị đơn: Ông Nguyễn Duy L, sinh năm 1979.

Địa chỉ: số 4/8A khóm ĐTB, phường MT, thành phố LX, tỉnh AG. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản khai cùng ngày 27 tháng 04 năm 2018, trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân và gia đình: Bà Nguyễn Thị Tuyết V và ông Nguyễn Duy L do mai mối, tìm hiểu, quen biết nhau và sau đó có tổ chức lễ cưới vào năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Mỹ Quý, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, theo trích lục kết hôn bản sao số 155/TLKH-BS, ngày 27 tháng 04 năm 2018, kết hôn ngày 29 tháng 07 năm 2005, hôn nhân lần thứ nhất của ông bà. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông L thiếu quan tâm chăm sóc gia đình, vợ con. Vì vậy, vợ chồng đã ly thân với nhau từ năm 2013. Nay bà V không còn tình cảm vợ chồng với ông L, mâu thuẫn vợ chồng ngày thêm trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu ly hôn với ông L.

Về quan hệ con chung: Bà Nguyễn Thị Tuyết V và ông Nguyễn Duy L có một con chung tên Nguyễn Trọng P, sinh ngày 11 tháng 06 năm 2005 (nam). Bà V yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay, bà V có việc làm và thu nhập ổn định, đủ khả năng nuôi con và cháu P đang sống chung với bà V, có nơi ở và học tập ổn định tại thành phố BH, tỉnh ĐN.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Trong thời gian sống chung vợ chồng giữa bà V và ông L có tài sản chung nhưng bà V yêu cầu tự thỏa thuận với ông L, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Duy L vắng mặt không có lý do, không có ý kiến trình bày.

Tại phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết V giữa nguyên yêu cầu khởi kiện. Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên:

Về thủ tục tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách đương sự, quan hệ pháp luật tranh chấp. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm như: Nguyên tắc xét xử, thư ký phiên tòa, sự có mặt, vắng mặt của đương sự tại phiên tòa. Bị đơn, ông L vắng mặt không đến Tòa án giải quyết là không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của ông và phải chịu hậu quả theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự tại phiên tòa: Ông L và bà V đăng ký kết hôn năm 2005. Giữa ông L và bà V phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không liên lạc với nhau nhiều năm, không quan tâm chăm sóc lo lắng quan tâm nhau, nhận thấy hôn nhân không hạnh phúc theo điều 19 Luật hôn nhân gia đình nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà V đối với ông L là phù hợp quy định tại điều 51, điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Về con chung, cháu P hiện nay sống chung với bà V, được bà chăm lo tốt, có nơi ở và học tập ổn định và con chung có nguyện vọng sống với bà V nên đề nghị chấp nhận yêu cầu của và V được trực tiếp nuôi con chung. Về cấp dưỡng, bà V không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung bà V yêu cầu tự thỏa thuận với ông L nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết công khai các văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Nguyễn Duy L không đến Tòa và vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông L.

[2] Về nội dung vụ án: Bà Nguyễn Thị Tuyết V và ông Nguyễn Duy L kết hôn năm 2005 trên cơ sở tự nguyện của cả hai, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Mỹ Quý, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận kết hôn bản sao số155/TLKH-BS, ngày 27 tháng 04 năm 2018, kết hôn ngày 29 tháng 07 năm 2005 được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Nay, bà V và ông L phát sinh mâu thuẫn, bà V xin ly hôn nên Tòa án thụ lý giải quyết là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2013 phát sinh mâu thuẫn.

Nguyên nhân, ông L không quan tâm chăm lo cho gia đình, vợ con và đã ly thân năm 2013 đến nay. Trong thời gian sống chung bà V luôn tìm cách hàn gắn tình cảm vợ chồng, hạnh phúc gia đình nhưng không có kết quả, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông L.

[4] Xét, hôn nhân giữa bà V và ông L mâu thuẫn phát sinh ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Hiện nay, bà V không còn tình cảm với ông L, không yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ khó khăn trong cuộc sống và chăm lo hạnh phúc gia đình, chăm lo con cái. Trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, ông L vắng mặt, không trình ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà V tức là ông đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của ông đã được pháp luật quy định nên không có căn cứ xét yêu cầu của ông L. Do đó, chấp nhận yêu cầu cùa bà V được ly hôn với ông L.

[5] Về quan hệ con chung: Trong thời gian sống chung vợ chồng bà V và ông L có một con chung tên Nguyễn Trọng P, sinh ngày 11 tháng 06 năm 2005. Hiện tại con chung đang sống chung với bà V tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, có nơi ở và học tập ổn định, cháu P có nguyện vọng sống chung với bà V. Việc cháu P sống chung với bà V, ông L vắng mặt không có ý kiến. Do đó, xét cần thiết phải giao con chung cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của cháu P được quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận yêu cầu của bà Vđược trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Bà V không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét, nếu có tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con chung sẽ xem xét giải quyết bằng vụ án khác nếu có.

[6] Trong thời gian sống chung vợ chồng, bà V xác định giữa bà và ông L có tài sản chung, nợ chung giữa vợ chồng với nhau nhưng bà yêu cầu tự thỏa thuận với ông L nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét đến.

[7] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà V nộp tiền án phí theo quy định pháp luật.

[8] Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà V được ly hôn với ông L; bà V được trực tiếp nuôi con chung, ông L không cấp dưỡng, về tài sản chung và nợ chung bà V và ông L tự giải quyết nên không xem xét.

Vì các lẽ trên,

Áp dụng:

QUYẾT ĐỊNH

Điều 8; Điều 9; Điều 19, Điều 51, Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 179; Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228; Điều 273; Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Điều 2; Điều 6; Điều 7; Điều 9 và Điêu 30 Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Tuyết V được ly hôn với ông Nguyễn Duy L.

Về quan hệ con chung: Bà Nguyễn Thị Tuyết V và ông Nguyễn Duy L có một con chung tên Nguyễn Trọng P, sinh ngày 11 tháng 06 năm 2005 (nam). Bà V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Ông L không cấp dưỡng nuôi con chung do bà V không yêu cầu. Bà V phải tạo điều kiện thuận lợi cho ông L được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Việc nuôi con chung không cố định.

Về quan hệ tài sản chung và quan hệ nợ chung: Bà Nguyễn Thị Tuyết V và ông Nguyễn Duy L tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà V nộp số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) trừ vào 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008254, ngày 18 tháng 05 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Bà Nguyễn Thị Tuyết V được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Duy L được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú của ông L.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

(Đã giải thích Điều 26 Luật thi hành án dân sự).


98
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 119/HNGĐ-ST ngày 08/11/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:119/HNGĐ–ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Long Xuyên - An Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:08/11/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về