Bản án 12/2018/HS-ST ngày 06/04/2018 về trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ LỘC, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 12/2018/HS-ST NGÀY 06/04/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 06 tháng 4 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam  Định  xét  xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2018/TLST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2018/QĐXXST- HS ngày 26 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo: Nguyễn Văn C, sinh năm 1974 tại xã T, huyện B, tỉnh Nam Định.

Nơi cư trú: Xóm H, xã T, huyện B, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Đinh Thị T (đều đã chết); có vợ Chử Thị H và bốn con; tiền án: Bản án số 276/2011/HSST ngày 30/12/2011 Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 09/2006/HSST ngày 18/5/2006 của Toà án nhân dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đã được xoá án; Bản án số 13/2008/HSST ngày 16/4/2008 của Toà án nhân dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định xử phạt 09 tháng tù về tội “Đánh bạc” đã được xoá án; bị bắt, tạm giam ngày 03 tháng 01 năm 2018; có mặt.

- Bị hại: Chị Trần Thị H, sinh năm 1983;

Nơi cư trú: Xóm 7, xã T, huyện L, tỉnh Nam Định.

- Người làm chứng:

Bà Nguyễn Thị H;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 45 phút, ngày 16/12/2017 Nguyễn Văn C điều khiển xe máy biển kiểm soát (viết tắt BKS) 18C1-259.76 đến cửa hàng quần áo của chị Trần Thị H, sinh năm 1983 ở xóm 7, xã T, huyện L, tỉnh Nam Định để mua quần áo. C dựng xe máy trước cửa hàng, đi bộ vào trong phòng khách thấy có một mình chị H đang nằm ngủ trên ghế, phía chân ghế đang cắm sạc một chiếc điện thoại Samsung J7 màu vàng nên liền nảy ý chiếm đoạt. C nhẹ nhàng tiếp cận, rút dây cắm sạc bỏ điện thoại vào túi rồi ra xe đi về nhà cất giấu. Khoảng 13 giờ cùng ngày, chị H phát hiện bị mất điện thoại nên trình báo Công an. Ngày 17/12/2017, Công an huyện Mỹ Lộc triệu tập Nguyễn Văn C làm việc. Tại Cơ quan điều tra, C đã khai nhận toàn bộ hành vi thực hiện việc chiếm đoạt chiếc điện thoại của chị H; con trai C là Nguyễn Văn C1, sinh năm 1993 đã giao nộp chiếc điện thoại trên cùng với chiếc xe máy BKS 18C1-259.76 và mũ bảo hiểm là những phương tiện, đồ vật mà C đã sử dụng khi thực hiện hành vi chiếm đoạt điện thoại của chị H ngày 16/12/2017.

Bản kết luận số 30/ĐG-HĐĐG ngày 19 tháng 12 năm 2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Mỹ Lộc kết luận: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy J7 màu vàng của chị H bị Nguyễn Văn C chiếm đoạt có giá trị 3.800.000đ (ba triệu tám trăm nghìn đồng).

Chiếc xe máy BKS 18C1-259.76 đăng ký tên Nguyễn Văn C cùng với chiếc mũ bảo hiểm đã thu giữ, quá trình điều tra xác định là tài sản do chị Chử Thị H1 (vợ C) mua, bản thân chị H1 không biết việc chồng mình sử dụng tài sản làm phương tiện để đi thực hiện phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trao trả cho chị H1. Bị hại chị Trần Thị H cũng đã được trả lại chiếc điện thoại và không có yêu cầu đề nghị gì.

Bản cáo trạng số 11/CTr - KSĐT ngày 28/02/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Lộc đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại phiên toà: Bị cáo Nguyễn văn C thành khẩn khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và hối hận về việc làm thiếu suy nghĩ của bản thân; bản kết luận định giá tài sản đã xác định giá trị chiếc điện thoại 3.800 đồng là đúng; Viện kiểm sát truy tố không oan nên không thắc mắc gì. Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”; căn cứ áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999 đề nghị xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù. Bị cáo không bào chữa, tranh luận gì và có lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mỹ Lộc cũng như Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Lộc cũng như Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo cũng như  bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy lời khai bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án như: Đơn trình báo và lời khai của bị hại; biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; kết luận của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự; lời khai người làm chứng; hình ảnh được trích xuất từ Camera an ninh tại khu vực cửa hàng của bị hại cũng như toàn bộ lời khai bị cáo tại cơ quan điều tra. Từ các tình tiết chứng cứ này đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 45 phút, ngày 16/12/2017, tại xóm 7, xã T, huyện L, tỉnh Nam Định. Lợi dụng việc sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản, Nguyễn Văn C đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của chị Trần Thị H là một chiếc điện thoại di động Samsung galaxy J7 màu vàng, có trị giá 3.800.000đ (ba triệu tám trăm nghìn đồng). Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn C là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, là khách thể được pháp Nhà nước bảo hộ. Mặt khác hành vi đó được thực hiện giữa ban ngày trong khu dân cư nông thôn, điều đó thể hiện sự liều lĩnh táo bạo, bất chấp dư luận xung quanh và coi thường pháp luật của bị cáo. Hành vi đó không những gây bất bình, phẫn nộ trong quần chúng nhân dân mà còn ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, lịch sử nhân thân đã từng phải đi chấp hành án phạt tù về hành vi chiếm đoạt tài sản. Sau khi mãn hạn tù bị cáo đã không lấy đó làm bài học thức tỉnh để hoàn lương mà trái lại, với ý thức lười lao động nhưng lại muốn hưởng thụ trên thành quả lao động của người khác một cách trái pháp luật nên một lần nữa tiếp tục phạm tội. Năm 2011 bị cáo đã tái phạm nguy hiểm chưa được xoá án tích, do đó lần phạm tội này của bị cáo theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 49 Bộ luật hình sự năm 1999 là tái phạm nguy hiểm. Tuy nhiên, do chính sách pháp luật hình sự của Nhà nước thay đổi, cụ thể: Tại Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội quy định về việc thực hiện các quy định có lợi cho người phạm tội theo khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung theo Luật số 12/2017/QH14. Đối chiếu với các quy định này thì bị cáo không còn thuộc trường hợp là tái phạm nguy hiểm mà chỉ thuộc trường hợp là tái phạm. Vì vậy bị cáo sẽ phải chịu trách nhiệm về hành vi tái phạm của mình.

[4] Về trách nhiệm hình sự: Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi, khách thể được pháp luật Nhà nước bảo hộ bị xâm phạm, động cơ mục đích phạm tội của bị cáo, hậu quả nguy hại cho xã hội và lịch sử nhân thân của bị cáo thì việc cần thiết phải áp dụng biện pháp cách ly xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục là thoả đáng; đồng thời cũng mới đáp ứng được yêu cầu răn đe, giáo dục phòng ngừa chung. Tuy nhiên, trong quá trình khai báo bị cáo đã thành khẩn, nhận thức lỗi lầm, ăn năn hối cải, đây là tình tiết được Hội đồng xét xử xem xét vận dụng điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo được hưởng chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước. Xét mức án Viện kiểm sát đề nghị áp dụng để cải tạo bị cáo là có căn cứ. Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc để ấn định một mức án cụ thể tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và đồng thời cũng đủ để cải tạo bị cáo thành công dân có ích.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Trần Thị H đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều  23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14  ngày 30/12/2016  của  Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo C 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạmgiam, ngày 03 tháng 01 năm 2018.

2. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


57
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về