Bản án 12/2018/HSST ngày 07/03/2018 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 12/2018/HSST NGÀY 07/03/2018 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 07/3/2018, tại Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 55/2017/HSST ngày 20 tháng 11 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2017/HSST-QĐ ngày 25/12/2017 đối với:

Bị cáo Trần Thị Thùy T, sinh năm 1969 tại Bình Dương; Nơi cư trú (HKTT, chỗ ở hiện tại): thôn 3, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Số CMND: 285630969; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa: 02/12; Con ông Trần Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị Bạch T (đã chết). Bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 1996. Tiền án, Tiền sự: không; Bị cáo được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

Công ty tài chính TNHH MTV Home Credit Việt Nam

Địa chỉ: tầng 1, cao ốc văn phòng 194 Golden Building, số 473 Điện Biên Phủ, phường 25, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo pháp luật: ông Bruce Allan Butler – Chức vụ: Tổng giám  đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Ngọc Đ, sinh năm 1979

Địa chỉ: 311/2/17 Nơ Trang Long, phường 13, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Huỳnh Thị Cẩm L, sinh năm 1996

Nơi cư trú: thôn 4, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước. có mặt

Huỳnh Tấn H, sinh năm 1976

Nơi cư trú: thôn 4, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước. có mặt

Cao Thị Thanh Th, sinh năm 1993Nơi cư trú: thôn 3, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước. có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ ánđược  tóm tắt như sau:

Công ty TNHH MTV tài chính PPF Việt Nam (nay là Công ty tài chính TNHH MTV Home Credit Việt Nam (gọi tắt là Công ty Home Credit) địa chỉ tại  194 Golden Building, số 473 Điện Biên Phủ, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh là công ty 100% vốn nước ngoài; được thành lập và hoạt động theo Giấy phép số 112/GP-NHNN ngày 18/4/2008 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Ngày 29/5/2013, Công ty Home Credit ký thỏa thuận hợp tác với ông Nguyễn Tấn H là chủ cửa hàng điện thoại di động HV tại thôn 3, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước. Hình thức hợp tác kinh doanh như sau: Khách hàng đến cửa hàng của ông H mua điện thoại theo hình thức trả góp thì phải thanh toán một phần tiền cho ông H, phần còn lại thì Công ty Home Credit sẽ lập hợp đồng tín dụng trả góp với khách hàng. Cụ thể: Khách hàng đến mua điện thoại trả góp sẽ được nhân viên của công ty tư vấn, lựa chọn loại điện thoại kèm theo giá. Khách hàng lựa chọn được sản phẩm và đồng ý các nội dung được tư vấn thì nhân viên của công ty sẽ cho khách hàng biết phía công ty sẽ cho vay bao nhiêu tiền trong tổng số tiền mua sản phẩm ấy, số tiền còn lại thì khách hàng phải thanh toán cho ông H. Sau khi hai bên thống nhất sẽ tiến hành ký hợp đồng tín dụng trả góp. Hợp đồng ghi rõ số tiền vay, số tiền bảo hiểm khách hàng phải trả cho công ty bảo hiểm, thời hạn và phương thức thanh toán. Khi ký hợp đồng, khách hàng phải có giấy Chứng minh nhân dân (CMND), sổ hộ khẩu (bản chính) và phải có mặt để nhân viên của Công ty kiểm tra, đối chiếu hình ảnh, lấy thông tin cá nhân, chụp ảnh lưu hồ sơ để ngăn ngừa việc gian lận đóng giả khách hàng ký hợp đồng. Sau khi ký hợp đồng với công ty, khách hàng đến gặp ông H để nhận giao điện thoại và trả một phần tiền cho ông H. Phía Công ty sẽ chuyển số tiền khách hàng còn nợ ông H vào tài khoản của ông H. Khách hàng sẽ thanh toán tiền góp hàng tháng cho Công ty Home Credit qua các ngân hàng hoặc qua nhân viên thu hồi nợ của công ty.

Trần Thị Thùy T khai: Do đã dùng giấy tờ cá nhân làm thủ tục vay tiền của Công ty Home Credit để mua điện thoại di động tại cửa hàng HV vào ngày 11/12/2013 nên biết được việc chưa thanh toán hết tiền vay của hợp đồng này là không đủ điều kiện để tiếp tục ký hợp đồng tín dụng trả góp với Công ty. Mặt khác, T thấy nhân viên của Công ty Home Credit không kiểm tra, đối chiếu kỹ hình ảnh trong giấy tờ với hình ảnh thực tế của khách hàng đến vay vốn nên nảy sinh thủ đoạn gian dối, lợi dụng sơ hở này để thực hiện 02 vụ lừa đảo chiếm đoạt tiền của Công ty Home Credit, cụ thể như sau:

1. Vụ thứ nhất

Ngày 31/12/2013, Trang nói dối với Huỳnh Thị Cẩm L (là cháu gọi T bằng dì ruột) là mình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có tiền mua điện thoại để liên lạc khi cần thiết nên nhờ L dùng CMND và hộ khẩu đứng tên con gái của T là Cao Thị Thanh Th (đang chấp hành án về tội giết người tại trại giam Tống Lê Chân)  để nhờ L giả đứng tên Th làm thủ tục vay tiền mua điện thoại trả góp giúp T thì L đồng ý. Sau đó T và L đến cửa hàng điện thoại HV gặp nhân viên của Công ty Home Credit là bà Nguyễn Thị L2 để tư vấn và làm thủ tục vay tiền mua điện thoại đi động trả góp. Lúc này L (đứng tên giả là Th) đồng ý mua 01 điện thoại Nokia Lumia 920 của ông H với giá 12.300.000đ, phải trả cho ông H số tiền 5.300.000đ, số tiền 7.000.000đ  còn lại thì làm thủ tục vay trả góp. Bà L2 làm thủ tục kiểm tra giấy tờ, đối chiếu hình ảnh xong thì lập hợp đồng tín dụng trả góp số 2301433894, thể hiện Công ty Home Credit cho Cao Thị Thanh Th vay số tiền 7.436.000đ, trong đó 7.000.000đ là tiền vay mua điện thoại trả góp, 436.000đ là tiền mua bảo hiểm; thời gian trả góp là 12 tháng; lãi suất 6,66%/tháng. Sau khi ký và nhận hợp đồng từ bà L2, L đưa lại cho T, T nói Lra ngoài cửa hàng đợi, rồi cầm hợp đồng trên đưa cho ông H. H kiểm tra và đưa điện thoại cho T để T trả 5.300.000đ  cho H. T nói không có tiền và thỏa thuận bán lại điện thoại trên cho  H7.000.000đ  bằng số tiền công ty cho vay. H đồng ý mua lại điện thoại và giao số tiền này cho T. Số tiền này T dùng sử dụng cá nhân.

2. Vụ thứ hai

Cũng bằng thủ đoạn trên, ngày 07/02/2014 T nói dối với Huỳnh Tấn H (là em rể của T) là mình bị mất điện thoại, hiện đang sống một mình rất cần điện thoại để liên lạc với con gái đang thi hành án tại trại giam Tống Lê Chân nên nhờ H đứng tên giả trong giấy CMND và sổ hộ khẩu của chồng là Cao Văn Th để mua điện thoại trả góp. Sau đó T và H đến cửa hàng HV gặp bà Ngô Thị D là nhân viên của Công ty Home Credit để tư vấn và làm thủ tục vay tiền mua trả góp 01 điện thoại SamSung Galaxy S4 trị giá 14.300.000đ, theo hợp đồng khách hàng phải trả cho ông H số tiền 7.300.000đ, số tiền 7.000.000đ còn lại thì làm thủ tục vay trả góp. Sau khi kiểm tra giấy tờ, đối chiếu hình ảnh xong, bà D lập hợp đồng tín dụng trả góp số 3415939065, thể hiện Công ty Home Credit cho Cao Văn Th vay số tiền 7.437.000đ,  trong đó 7.000.000đ  là tiền vay mua điện thoại trả góp, 437.000đ  là tiền bảo hiểm; thời gian trả góp là 12 tháng; lãi suất 6,67%/tháng. Sau khi H ký hợp đồng thì đưa lại cho T rồi đi về. T đưa hợp đồng trên cho H. H kiểm tra và giao điện thoại cho T để T trả 7.300.000đ. T nói không có tiền trả và thỏa thuận bán lại điện thoại trên cho ông H 7.000.000đ  bằng số tiền công ty cho vay. H đồng ý mua điện thoại và đưa 7.000.000đ cho T. Số tiền này T dùng để sử dụng cá nhân.

Tổng  số  tiền T đã lừa đảo chiếm đoạt được của Công ty Home Credit là 14.837.000 đồng (mười bốn triệu tám trăm ba bảy nghìn đồng).

Do không thấy khách hàng đến thanh toán tiền theo hợp đồng nên Công ty Home Credit tiến hành kiểm tra, đối chiếu hình ảnh và phát hiện sự việc trên. Ngày 16/5/2017 ông Bùi Ngọc Đ là người đại diện theo ủy quyền của Công ty Home Credit đã làm đơn tố cáo Cơ quan CSĐT Công an huyện B để điều tra.

Về trách nhiệm dân sự:

Trong quá trình điều tra bị cáo T đã bồi thường cho Công ty Home Credit  số tiền là 14.000.000đ. Công ty Home Credit yêu cầu T bồi thường số tiền còn thiếu là 873.000đ và lãi suất là 9.769.000đ(phát sinh từ ngày ký hợp đồng đến ngày 16/5/2017- ngàyCông ty có đơn tố cáo).

Tại bản cáo trạng số 04/CTr-VKS-P3 ngày 15 tháng 11 năm 2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Trần Thị Thùy T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đãtruy  tố đối với bị cáo.

Đại diện theo ủy quyền của bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền còn lại là 10.642.000đ.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 139; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 của Bộ luật hình sự năm 1999, tuyên phạt bị cáo Trần Thị Thùy T từ 06 đến 09 tháng tù.

Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo biết hành vi của mình là sai trái, hối hận về hành vi đã gây ra, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1].Trong quá trình điều tra, truy tố, các hành vi, quyết định của cơ quan điều tra Công an, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và nguyên đơn dân sự không có người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được xét hỏi công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có cơ sở khẳng định: lợi dụng sự sơ hở của nhân viên công ty Home Credit trong việc đối chiếu hình ảnh khách hàng với chứng minh nhân dân trong quá trình ký hợp đồng, Trần Thị Thùy T đã dùng chứng minh nhân dân cùng sổ hộ khẩu của chồng và con của bị cáo là anh Cao Văn Th và chị Cao Thị Thanh Th rồi nhờ anh Huỳnh Tấn H và chị Huỳnh Thị Cẩm L giả làm anh Th và chị Th đến ký vào hợp đồng vay tiền với nhân viên của công ty Home Credit để chiếm đoạt số tiền 14.873.000 đồng.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 như Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước truy tố.

[3]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây hoang mang lo lắng cho người dân. Khi thực hiện hành vi, bị cáo hoàn toàn nhận thức được việc nhờ người khác giả làm người có tên trong giấy chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu để lừa dối nhân viên của công ty Home Credit nhằm chiếm đoạt tài sản của công ty là trái pháp luật nhưng vì để có tiền tiêu xài cá nhân mà bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi. Bị cáo hai lần thực hiện hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản của công ty Home Credit nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự nên cần được xử phạt bị cáo một mức án tương xứng nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyên bồi thường thiệt hại khắc phục một phần hậu quả, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của bị hại xin giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự được Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.

Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng. Thấy rằng cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo tự cải tạo dưới sự giúp đỡ của gia đình, sự giám sát của chính quyền địa phượng cũng đủ tác dụng răng đe, giáo dục và phòng ngừa chung và cũng thể hiện được chính sách nhân đạo của pháp luật Việt Nam.

Đối với hành vi giả làm anh Th, chị Th của anh Huỳnh Tấn H và chị Huỳnh Thị Cẩm L thấy: vì tin tưởng bị cáo nên anh H, chị L không biết hành vi của bị cáo là nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác và anh H, chị L cũng không được hưởng lợi gì từ việc bị cáo chiếm đoạt tài sản này. Cơ quan điều tra không truy tố anh H, chị L là có căn cứ nên không xem xét.

[4].Về trách nhiệm dân sự: trong quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền đã chiếm đoạt là 14.000.000đ. Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 873.000đ là tiền bảo hiểm của hai hợp đồng và số tiền lãi là là 9.769.000đ, tổng cộng là 10.642.000đ. Tại phiên tòa, chị Cao Thị Thanh Th (con gái của bị cáo T) đã thay bị cáo T bồi thường cho Công ty Home Credit số tiền 3.000.000đ.

Số tiền còn lại là 7.642.000đ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Huỳnh Tấn H và đại diện theo ủy quyền của người bị hại thỏa thuận: ông H tự nguyện bồi thường thay cho bị cáo T số tiền trên trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày 07/3/2018. Xét thấy đây là sự tự nguyện của các bên và không trái pháp luật, cần công nhận. Chị Th và ông H không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền này nên không xem xét. Vật chứng của vụ án: không.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước một phần phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử, được chấp nhận một phần.

Án phí sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Thị Thùy T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 139 bộ luật hình sự năm 1999; điểm g khoản 1 Điều 52;điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự.

 Xử phạt bị cáo Trần Thị Thùy T 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành án treo được thực hiện theo Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: công nhận sự thỏa thuận giữa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Tấn Hvà đại diện theo ủy quyền của bị hại, buộc ông Huỳnh TấnH bồi thường cho Công ty tài chính TNHH MTV Home Credit Việt Nam số  tiền7.642.000đ (bảy triệu sáu trăm bốn mươi hai ngàn đồng) trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày 07/3/2018. 

Vật chứng của vụ án: không Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu 200.000đ. Án phí dân sự sơ thẩm: ông H phải chịu 191.000đ.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án.


69
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Văn bản được căn cứ
        Bản án/Quyết định đang xem

        Bản án 12/2018/HSST ngày 07/03/2018 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

        Số hiệu:12/2018/HSST
        Cấp xét xử:Sơ thẩm
        Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Bình Phước
        Lĩnh vực:Hình sự
        Ngày ban hành:07/03/2018
        Là nguồn của án lệ
          Bản án/Quyết định sơ thẩm
            Án lệ được căn cứ
               
              Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
                Bản án/Quyết định phúc thẩm
                  Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về