Bản án 12/2018/HS-ST ngày 09/02/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

BẢN ÁN 12/2018/HS-ST NGÀY 09/02/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 09 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2018/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2018/QĐXXST-HS ngày 29/01/2018 đối với bị cáo

Phạm Hoàng N (tên gọi khác: Phúc Gà), sinh năm 1979, tại Bến Tre.

Hộ khẩu thường trú: Đường Y,Thôn Q , xã T, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi cư trú: Như trên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: phật; Quốc tịch: Việt Nam;

Cha là ông Phạm H( đã chết); Mẹ là bà Nguyễn T, sinh năm 1953; Có vợ là Nguyễn Thị C, sinh năm 1995; Có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017.

Tiền án:

- Ngày 18/9/2009, bị Tòa án nhân dân thị xã Bà Rịa (nay là thành phố Bà Rịa), tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tuyên phạt 12 tháng tù giam về hành vi trộm cắp tài sản. Chấp hành xong ngày 7/9/2009.

- Ngày 13/01/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tuyên phạt 18 tháng tù giam về hành vi trộm cắp tài sản. Chấp hành xong 19/01/2013.

- Ngày 03/3/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tuyên phạt 30 tháng tù giam về hành vi trộm cắp tài sản. Chấp hành xong 10/01/2017.

Tiền sự: Không

Bị bắt tạm giữ ngày 04/11/2017, chuyển tạm giam ngày 07/11/2017 Bị cáo được dẫn giải trước phiên tòa.

- Người bị hại:

+ Bà Phan Thị Tuyết M, sinh năm 1987 (Có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ Q , khu phố W, phường P, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

+ Bà Đinh Thị Tố L, sinh năm 1987 (Có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Số E  đường R, khu phố 7, phường P, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Trần Linh Vũ L, sinh năm 1995 (Có mặt).

Hộ khẩu thường trú: Ấp A, xã P, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Địa chỉ: Phường P, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

+ Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1995 (Có mặt)

Địa chỉ: Tổ I, đường Y, thôn Q, xã T, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

+ Ông Dương Trung H, sinh năm 1986 (Có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ E, khu phố R, phường P, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

+ Bà Trần Thị V, sinh năm 1968 (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn Q , xã T, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

+ Ông Nguyễn Phú G (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp N, xã H, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

- Người làm chứng:

+ Ông Nguyễn Khoa T, sinh năm 1977 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố T, phường L, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

+ Ông Đỗ Duy S, sinh năm 1995 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ A, khu phố H, phường Long Hương, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được xác định như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 04/11/2017, Phạm Hoàng N được 01 đồng bọn tên H (chưa rõ nhân thân) điều khiển xe máy hiệu Honda Vision (không rõ biển số) chở đi tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khi đi ngang cửa hàng quần áo M tại địa chỉ: Số A đường C, phường P, thành phố Bà Rịa, cả hai phát hiện 01 xe máy hiệu Yahama Sirius biển số 72C1 – 119.53 của chị Phan Thị Tuyết M (Sinh năm 1987, Hộ khẩu thường trú: Tổ Q, khu phố W, phường P, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) dựng trước cửa tiệm nên nảy sinh ý định trộm cắp. H dừng xe, đưa đoản phá khóa xe cho N, N đi đến chỗ chiếc xe và dùng đoản phá khóa, nổ máy điều khiển xe bỏ chạy. Lúc này, chị M phát hiện mất xe và tri hô, chồng chị là anh Dương Trung Hải (Sinh năm: 1986, Nơi ở: Tổ 4, khu phố 3, phường Phước Hưng, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) đuổi theo, khi đến gần khu vực ngã tư đường Nguyễn Hữu Thọ - Nguyễn Văn Linh (thuộc phường Phước Trung) thì phối hợp với người đi đường là anh Đỗ Duy Sơn (Sinh năm: 1995, Hộ khẩu thường trú: Tổ 14, khu phố Hương Điền, phường Long Hương, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) bắt giữ được N đưa đến Công an thành phố Bà Rịa để làm việc, đối tượng H bỏ trốn khỏi hiện trường. Tang vật thu giữ: 01 ĐTDĐ Nokia 105 màu đen, số imel: 35368 1086 157369; 01 xe máy hiệu Yamaha Sirius biển số: 72C1 – 119.53 màu đỏ - đen, 01 đoản phá khóa xe và 06 thanh sắt lục giác.

Tại cơ quan điều tra, Phạm Hoàng N đã thừa nhận hành vi phạm tội như trên. Ngoài ra N khai nhận, khoảng 18 giờ ngày 31/10/2017, N điều khiển xe máy biển số 72F1 – 475.82 đến gặp H tại Trung tâm thương mại Bà Rịa, sau đó cả hai thống nhất đi trộm cắp xe máy. Khi đến trước nhà số N đường H, khu phố 7, phường Phước P, thành phố Bà Rịa, N phát hiện 01 xe máy hiệu Honda Wave màu đỏ, biển số 72K1 – 4287 của chị Đinh Thị Tố L (Sinh năm: 1991, chỗ ở: Số N đường H, khu phố 7, phường P, thành phố Bà Rịa) không có người trông coi nên H dựng xe đứng cảnh giới, đưa đoản phá khóa cho N, N đi đến nơi để xe dùng đoản phá khóa, dắt lùi xe lại và nổ máy, vào số, khi lên ga thì xe bốc đầu chạy lên phía trước va chạm vào 01 xe khác nên N bỏ lại xe, tẩu thoát cùng H.

Xe máy Honda Wave màu đỏ, biển số 72K1 – 4287 chị L tự bảo quản, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bà Rịa không thu giữ.

Ngày 06/11/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bà Rịa thực hiện lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của N tại phòng 102 nhà nghỉ T (thuộc xã C, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu), thu giữ: 01 xe máy hiệu Yamaha Sirius màu đỏ - đen - xám, biển số 72F1 – 475.82; 01 ĐTDĐ hiệu Samsung  màu  đồng, số  imel 1: 35155  60946 72692, imel  2:  35155 70946 72627; 01 ĐTDĐ hiệu Nokia 1280 màu xanh, type RM647, code 0593142; 01 hộ chiếu số C3137173 mang tên Trần Linh Vũ L.

Theo bản kết luận định giá tài sản số 115 KL-HĐĐGTS ngày 14/11/2017 và 118/KL-HĐĐGTS ngày 21/11/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xác định: 01 xe máy hiệu Yamaha Sirius biển số 72C1 – 119.53 trị giá: 9.000.000 đồng (chín triệu đồng); 01 xe máy hiệu Honda Wave biển số 72K1 – 4287 trị giá: 7.066.000 đồng (bảy triệu, không trăm sáu mươi sáu ngàn đồng).

Về vật chứng vụ án:

- 01 xe máy hiệu Yamaha Sirius biển số: 72C1 – 119.53 màu đỏ - đen Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bà Rịa đã quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị Phan Thị Tuyết M.

- 01 xe máy hiệu Yamaha Sirius màu đỏ - đen - xám, biển số 72F1 – 475.82, qua xác minh là của bà Trần Thị V, sinh năm: 1968, Hộ khẩu thường trú: Thôn Q , xã T, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) là mẹ vợ của N đứng tên, bà V cho N mượn làm phương tiện đi lại, bà V không biết việc N sử dụng xe trên làm phương tiện đi trộm cắp tài sản.

- 01 hộ chiếu số C3137173 mang tên Trần Linh Vũ L, qua làm việc Trần Linh Vũ L khai cách ngày 31/10/2017 khoảng 2 tuần, N gọi điện thoại cho L hỏi có mang giấy tờ tùy thân cho N mượn để đi cầm xe Yamaha Sirius màu đỏ - đen - xám, không nhớ biển số. Sau đó N đến gặp L, L đưa hộ chiếu của mình cho N đi cầm xe, khi đi cầm xe N nói đây là xe của N và hứa ngày hôm sau sẽ trả lại hộ chiếu. Sau đó L không thấy N trả lại hộ chiếu, L liên lạc với N không được.

- 01 ĐTDĐ Nokia 105 màu đen, số imel: 35368 10861 57369; 01 ĐTDĐ Samsung màu đồng, số imel 1: 35155 60946 72692, imel 2: 35155 70946 72627; 01 ĐTDĐ hiệu Nokia 1280 màu xanh, type RM647,code 0593142; 01 đoản phá khóa xe; 06 thanh sắt lục giác;

Các vật chứng trên đã được chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa chờ xử lý sau.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại chị Phan Thị Tuyết M sau khi nhận lại tài sản là chiếc xe máy hiệu Yamaha Sirius biển số: 72C1 – 119.53 màu đỏ - đen không có yêu cầu gì thêm. Chị Đinh Thị Tố L không có yêu cầu gì.

- Tại bản Cáo trạng số: 08/QĐ-KSĐT ngày 15/01/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã truy tố Phạm Hoàng N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai của mình tại cơ quan điều tra và khai nhận toàn bộ hành vi trái pháp luật của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa  giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và phát biểu luận tội, phân tích hành vi phạm tội của  bị cáo, hậu quả do bị cáo gây ra, cũng như đặc điểm nhân thân của bị cáo. Đề nghị, Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm h,s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo N từ 03 đến 04 năm tù.Về xử lý vật chứng: Đề nghị trả cho bà Trần Thị V- 01 xe máy hiệu Yamaha Siriusmàu đỏ - đen - xám, biển số 72F1 – 475.82; trả cho ông Trần Linh Vũ L 01 hộ chiếu số C3137173; Trả 01 ĐTDĐ hiệu Samsung màu đồng, số imel 1: 35155 60946 72692, imel 2: 35155 70946 72627; 01 ĐTDĐ hiệu Nokia 1280 màu xanh, type RM647, code 0593142, cho bà Nguyễn Thị C. Đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 ĐTDĐ Nokia 105 màu đen, số imel: 35368 10861 57369; tịch thu tiêu hủy 01 đoản phá khóa xe; 06 thanh sắt lục giác;Về trách nhiệm dân sự: Do người bị hại đều đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến về phần này.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng:  Qua xem xét toàn bộ hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bà Rịa, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định tại các Điều 88,98,105 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về nội dung vụ án và tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, qua đối chiếu với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, bản kết luận giám định, lời khai người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ, liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy phù hợp với nhau, do vậy có đủ căn cứ kết luận:

Mặc dù có 3 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nhưng Phạm Hoàng N đã cùng đồng bọn tiếp tục thực hiện hai vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Bà Rịa. Cụ thể: Ngày 31/10/2017, tại số nhà 226 đường 27/4, khu phố 7, phường Phước Hưng, thành phố Bà Rịa, Phạm Hoàng N lén lút lấy trộm 01 xe máy hiệu Honda Wave màu đỏ, biển số 72K1 – 4287 của chị Đinh Thị Tố L, trị giá: 7.066.000 đồng (bảy triệu, không trăm sáu mươi sáu ngàn đồng) và ngày 04/11/2017, tại số nhà 332 Cách Mạng Tháng 8, phường Phước Trung, thành phố Bà Rịa, Phạm Hoàng N và đồng bọn lén lút lấy trộm 01 xe máy hiệu Yahama Sirius biển số 72C1 – 119.53 của chị Phan Thị Tuyết M đã bị bắt quả tang cùng tang vật, trị giá: 9.000.000 đồng (chín triệu đồng). Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là: 16.066.000 đồng (mười sáu triệu, không trăm sáu mươi sáu ngàn đồng).

Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là đã người đã trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật, tuy nhiên do bản tính thích hưởng thụ nhưng lại lười lao động, nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt tù có thời hạn nhưng khi trở về địa phương vẫn tiếp tục phạm tội.Với tính chất, mức độ phạm tội như trên cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội bằng hình phạt tù có thời hạn để cải tạo, giáo dục bị cáo, giúp bị cáo nhận ra lỗi lầm của mình đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm C trong xã hội.

Bị cáo có 03 tiền án: Ngày 18/9/2009, bị Tòa án nhân dân thị xã Bà Rịa (nay là thành phố Bà Rịa), tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tuyên phạt 12 tháng tù giam về hành vi trộm cắp tài sản. Chấp hành xong ngày 7/9/2009. Ngày 13/01/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tuyên phạt 18 tháng tù giam về hành vi trộm cắp tài sản. Chấp hành xong 19/01/2013. Ngày 03/3/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tuyên phạt 30 tháng tù giam về hành vi trộm cắp tài sản. Chấp hành xong 10/01/2017. Các tiền án trên của bị cáo theo luật định chưa được xóa án tích mà phạm tội mới, nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó hành vi của bị cáo Phạm Hoàng N có đủ dấu hiệu tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự  năm 1999.

Căn cứ Nghị Quyết số 41/2017/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc Hội, thực hiện khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 thì trường hợp này áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 để xét xử theo hướng có lợi cho bị cáo, do đó hành vi của bị cáo có đủ dấu hiệu cấu thành tội “ Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 đúng như Viện kiểm sát truy tố.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thực hiện hai vụ trộm cắp: một vụ ngày 31/10/2017 nhưng không bị bắt, đến ngày 04/11/207 bị cáo tiếp tục thực hiện vụ thứ 2 thì bị bắt quả tang. Như vậy bị cáo có tình tiết tăng nặng tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: xét bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản bị thiệt hại cũng đã được thu hồi trả cho người bị hại. Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm, nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật theo quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

[5]Về hình phạt bổ sung: xét bị cáo tuy có việc làm, nhưng thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với đối tượng tên H do không xác định được tên tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại chị Phan Thị Tuyết M sau khi nhận lại tài sản là chiếc xe máy hiệu Yamaha Sirius biển số: 72C1 – 119.53 màu đỏ - đen không có yêu cầu gì thêm. Chị Đinh Thị Tố L cũng không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị V có yêu cầu xin nhận lại 01 chiếc xe máy hiệu Yamaha Sirius màu đỏ - đen – xám, biển số 72F1 – 475.82. Xét chiếc xe này là tài sản của bà V cho bị cáo N mượn xe để làm phương tiện đi làm. Bà V không biết bị cáo sử dụng xe để thực hiện hành vi trộm cắp nên cần tuyên trả cho bà V. Ông Trần Linh Vũ L có yêu cầu xin nhận lại sổ hộ chiếu, xét sổ hộ chiếu mang tên ông L không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo nên cần tuyên trả cho ông L. Một ĐTDĐ hiệu Samsung màu đồng, số imel 1: 35155 60946 72692, imel 2: 35155 70946 72627; 01 ĐTDĐ hiệu Nokia 1280 màu xanh, type RM647, code 0593142 là tài sản của bà Nguyễn Thị C không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo nên cần tuyên trả cho bà C. Một ĐTDĐ Nokia 105 màu đen, số imel: 35368 10861 57369 là phương tiện bị cáo dùng liên lạc với H để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung công Quỹ nhà nước.Một đoản phá khóa xe và 06 thanh sắt lục giác là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8]Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự 1999, điểm h,s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hoàng N (tên gọi khác: Phúc Gà) phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo Phạm Hoàng N 03 (ba) năm tù.Thời hạn tù tính từ ngày 04/11/2017

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 tuyên xử:

- Trả cho bà Trần Thị V 01 chiếc xe máy hiệu Yamaha Sirius màu đỏ - đen - xám, biển số 72F1 – 475.82

- Trả cho Trần Linh Vũ L 01 hộ chiếu số C3137173

- Trả cho bà Nguyễn Thị C 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đồng, số imel 1: 35155 60946 72692, imel 2: 35155 70946 72627; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280 màu xanh, type RM647, code 0593142.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen, số imel: 35368 10861 57369.

- Tịch thu tiêu hủy 01 đoản phá khóa xe; 06 thanh sắt lục giác.

(Toàn bộ vật chứng nêu trên hiện đang được Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 24/BB.THA ngày 16/01/2018).

3. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Phan Thị Tuyết M và Đinh Thị Tố L không có yêu cầu gì thêm và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị V, Trần Linh Vũ L, ông Dương Trung Hải cũng không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Hoàng N phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, đương sự có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


66
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về