Bản án 12/2018/HS-ST ngày 24/01/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 12/2018/HS-ST NGÀY 24/01/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 24 tháng 01 năm 2018, tại Tru sơ  Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số333/2017/TLST-HS ngày 25/12/2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2018/QĐXXST-HS ngày 10/01/2018 đối với bị cáo:

Bùi Quốc Đ, sinh ngày 05 tháng 7 năm 1975; Đăng ký nhân khẩu thường trú: Phòng 403, A2, tổ 26, phường N, quận C, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Duy K và bà Nguyễn Thị T; Có vợ là Nguyễn Thị M và 01 con.

Tiền án:

- Án số 188/HS-ST ngày 14/5/2003, Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt26 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. (Đã xóa án).

- Án số 360/HS-ST ngày 31/7/2012, Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 28 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ra trại ngày 26/4/2014 (Đã xóa án).

Bắt tạm giam ngày 16/10/2017 – Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 14/10/2017, Bùi Quốc Đ đến phố Kim Mã, quận Ba Đình, Hà Nội mua 300.000 đồng ma túy heroine để sử dụng. Sau khi mua, Đ giấu số ma túy gồm 01 túi nilon chứa bột heroine và 01 gói giấy bạc bên trong chứa bột heroine vào trong tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, để trong túi quần. Đến khoảng 14h ngày 14/10/2017, Đ điều khiển xe máy Honda Wawe BKS 17B1-714.90 đi trên đường Tân Mỹ chiều Nguyễn Cơ Thạch đi Lê Đức Thọ khi đến gần ngã tư Lê Đức Thọ, Tân Mỹ thuộc phường Mỹ Đình 1, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội, Đ nhìn thấy tổ công tác Đội 6, PC 67-Công an thành phố Hà Nội nên đã lấy số ma túy trong túi quần vứt ra thảm cỏ ở giải phân cách cứng giữa đường cách vị trí tổ công tác khoảng 15m đến 20m. Nguyễn Quốc Đ đã bị tổ công tác phát hiện, yêu cầu dừng xe kiểm tra và dẫn giải quay lại vị trí Đ đã vứt ma túy trước đó để thu giữ vật chứng.

Vật chứng thu giữ:

- 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng trong có 01 túi nilon chứa cục bột màu trắng và 01 gói giấy bạc bên trong chứa chất bột màu trắng;

- 01 điện thoại di động OPPO màu trắng;

- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS 17B1-714.90.

Tại Bản kết luận giám định số 6067/KLGĐ-PC 54 ngày 30/10/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội xác định: Chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilon và 01 gói giấy bạc đều là ma túy loại heroine, tổng trọng lượng 0,202 gam.

Về nguồn gốc ma túy: Bùi Quốc Đ khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực bến xe Kim Mã cũ, quận Ba Đình, Hà Nội với giá 300.000 đồng về để sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành rà soát đối tượng tại địa bàn theo lời khai của Bùi Quốc Đ nhưng không xác định được. Vì vậy, không có căn cứ để xử lý

Xác minh xe mô tô Honda Wave BKS 17B1-714.90, đăng ký xe mang tên Phạm Thị Thúy (SN 1985, NKTT: Trung Quý, Thượng Hiền,Kiến Xương,Thái Bình) mua khoảng tháng 03/2011, sử dụng đến tháng 9/2017 bán cho chị Phạm Thị Liên (SN 1986 NKTT: Thái Thượng, Thái Thụy, Thái Bình). Ngày 14/10/2017, chị Liên cho Đ mượn để sử dụng. Việc Đ dùng xe đi mua ma túy chị Liên không biết. Ngày 10/11/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Nam Từ Liêm ra quyết định xử lý vật chứng số 211 bằng hình thức trao trả chiếc xe trên cho chị Phạm Thị Liên.

Tại cơ quan điều tra, Bùi Quốc Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại bản cáo trạng số 08/CT-VKS ngày 18/12/2017 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm thì Bùi Quốc Đ bị truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Đ khai nhận hành vi của mình, thành khẩn nhận tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quan điểm như cáo trạng truy tố và kết luận bịcáo Bùi Quốc Đ đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Sau khi đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xem xét tình tiết giảm nhẹ, đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù, xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy ma túy, tịch thu sung quỹ nhà nước 1.000 đồng, trả lại bị cáo 01 điện thoại di động.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 14 giờ ngày 14/10/2017, tại khu vực đường  Tân Mỹ, phường Mỹ Đình 1, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội, Bùi Quốc Đ đang thực hiện hành vi cất giấu trong người 0,202 gam ma túy loại heroine mục đích để sử dụng thì bị bắt giữ. Hành vi của bị cáo Đ đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Như cáo trạng của Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ phù hợp pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Bị cáo nhận thức rõ việc sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình cất giấu ma túy để sử dụng. Bị cáo có nhân thân xấu, từ năm 2003 đến 2012 đã 02 lần bị kết án về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Mặc dù các bản án đều đã được xóa, nhưng cho thấy bị cáo là đối tượng đã nhiều lần được pháp luật giáo dục cải tạo, nhưng không sửa chữa, tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, áp dụng mức hình phạt tù giam cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng bị cáo cũng như răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét bị cáo khai báo thành khẩn, thái độ ăn năn hối cải, khối lượng ma túy nhỏ  để  giảm  nhẹ  một  phần  hình  phạt  cho  bị  cáo.

Áp dụng Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc áp dụng điều luật của Bộ luật hình sự 2015 quy định về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy và mức hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về vật chứng vụ án: Số ma túy đã thu giữ cho tịch thu tiêu hủy,tờ tiền 1.000 đồng liên quan đến việc gói ma túy, cho tịch thu sung quỹ nhà nước, 01 điện thoại di động OPPO màu trắng không liên quan đến vụ án, trả lại bị cáo .

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: - Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015; Điều 33; Điều 41; Điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999;

-   Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội.

Tuyên bố bị cáo Bùi Quốc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Bùi Quốc Đ 24(Hai mƣơi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày16/10/2017.

* Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa ma túy, có chữ ký của người chứng kiến Lưu Trọng Toàn, Nguyễn Văn Minh và giám định viên; Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 1.000 đồng(Một nghìn đồng); Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng.

Theo biên bản giao nhận vật chứng số 36 ngày 19/12/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

* Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


34
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về