Bản án 12/2018/LĐ-ST ngày 22/10/2018 về tranh chấp trợ cấp thôi việc và tiền công lao động

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 12/2018/LĐ-ST NGÀY 22/10/2018 VỀ TRANH CHẤP TRỢ CẤP THÔI VIỆC VÀ TIỀN CÔNG LAO ĐỘNG

Trong ngày 22 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số: 86/2018/TLST- LĐ ngày 01 tháng 6 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2018/QĐXX- ST ngày 01 tháng 8 năm 2018 giữa:

1. Nguyên đơn: Ông Huỳnh Văn L, sinh năm 1973 ( có mặt)

Địa chỉ: Ấp Chánh Hội, xã Tân Mỹ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

2.Bị đơn: Công ty cổ phần mía đường HH

Địa chỉ: Khu vực 1, thị trấn Hiệp Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Người đại diện theo pháp luật: Nandaa Kumar B

Người đại diện theo ủy quyền ông Nandaa Kumar B là ông Nguyễn Minh Th, sinh năm 1976. Địa chỉ: 33/1 đường số 11 KP 1, phường Hiệp Bình Chánh, Quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/3/2018 và các lời khai tiếp theo tại Tòa án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Văn L trình bày như sau: ông vào làm việc tại công ty cổ phần mía đường HH từ tháng 11/1992 đến tháng 11/2016 thì ông xin nghỉ việc vì lý do sức khỏe. Ông được công ty cổ phần mía đường HH ban hành quyết định về việc chấm dứt Hợp đồng lao động số 152/QĐ-MĐHH – HCTC ký ngày 28/11/2016 do Tổng giám đốc công ty cổ phần mía đường HH ký. Tuy nhiên sau khi nghỉ việc công ty chưa thanh toán cho ông các khoản sau:

1/ Tiền lương tháng 01 và tháng 02 năm 2016 là mức lương làm căn cứ là 4.416.000 đồng theo như quyết định số 152/QĐ-MĐHH-HCTC ngày 28/11/2016.

2/ Tiền trợ cấp thôi việc theo quyết định chấm dứt Hợp đồng lao động số: 152/QĐ-MĐHH – HCTC ký ngày 28/11/2016 do Công ty cổ phần mía đường chưa trả từ tháng 11/1991 đến ngày 31/12/2008 là 35.328.000 đồng.

Tổng cộng số tiền mà ông yêu cầu Công ty cổ phần mía đường chi trả là: 44.160.000 đồng (Bốn mươi bốn triệu một trăm sáu mươi ngàn đồng).

Bị đơn Công ty cổ phần mía đƣờng HH: Đã được Tòa án tống đạt tất cả các văn bản tố tụng nhưng Công ty cổ phần mía đường HH không phản hồi ý kiến gì về việc giải quyết vụ án cho Tòa án.

Quan điểm kiểm sát viên tại phiên tòa: Về tố tụng, từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử Thẩm Phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân và những người tham gia tố tụng đã tiến hành làm việc đúng trình tự thủ tục theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông Huỳnh Văn L là buộc công ty cổ phần mía đường HH trả cho ông các khoản: lương tháng 1 và tháng 2 năm 2016 là 4.416.000 đồng x 2 tháng, trợ cấp thôi việc là 35.328.000 đồng. Tổng cộng các khoản là 44.160.000 đồng (Bốn mươi bốn triệu một trăm sáu mươi ngàn đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Qua yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn L đối với Công ty cổ phần mía đường HH, Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ pháp luật cần giải quyết là: tranh chấp “Đòi tiền lương” và “Trợ cấp thôi việc” khi chấm dứt hợp đồng lao động, ông L cho rằng ông bị Công ty cổ phần mía đường HH xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp nên ông có quyền khởi kiện theo quy định tại Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự (TTDS), vụ án còn trong thời hiệu khởi kiện và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa theo quy định tại Điều 35, 186 Bộ luật TTDS. Đối với Công ty cổ phần mía đường HH vắng mặt đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng công ty cũng không trình bày ý kiến của mình về việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt công ty cổ phần mía đường HH.

[2] Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ và lời trình bày của ông Huỳnh Văn L trình bày tại phiên tòa thì thấy rằng giữa ông với Công ty cổ phần mía đường HH hai bên có ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn từ tháng 11/1992. Đến ngày 28/11/2016 do ông có nhu cầu nghỉ việc vì lý do sức khỏenên công ty cổ phần mía đường HH ban hành quyết định số 152/QĐ-MĐHH – HCTC ký ngày 28/11/2016 cho ông nghỉ việc. Theo  quyết định trên thì số tiền trợ cấp thôi việc của ông làm việc từ tháng 11/1992 đến 31/12/2008 là 16 năm 02 tháng tính tròn 16 năm với số tiền là 35.328.000 đồng nhưng công ty cổ phần mía đường HH chưa thanh toán cho ông. Nay ông yêu cầu công ty cổ phần mía đường HH phải thanh toán cho ông các số tiền này là phù hợp với Điều 48 Bộ luật lao động và Nghị định 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp. Ngoài ra ông còn yêu cầu công ty cổ phần mía đường HH trả hai tháng lương là tháng 01 và 02 năm 2016 số tiền mỗi tháng là 4.416.000 đồng là phù hợp Điều 96 Bộ luật lao động. Như vậy đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp nên ghi nhận.

[3] Về án phí: ông Huỳnh Văn L không phải chịu án phí lao động sơ thẩm. Công ty cổ phần mía đường HH phải chịu án phí theo quy định

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 35, Điều 184, Điều 186, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 48, Điều 96 Bộ luật lao động; Nghị định 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp; Điều 468 Bộ luật dân sự 2015;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/Chấp nhận yêu cầu của ông Huỳnh Văn L tranh chấp “Đòi tiền trợ cấp thôi việc” và “Đòi tiền lương” đối với công ty cổ phần mía đường HH.

-Buộc công ty cổ phần mía đường HH phải trả tiền trợ cấp thôi việc cho ông Huỳnh Văn L với số tiền là 35.328.000đồng (Ba mươi lăm triệu ba trăm hai mươi tám ngàn đồng).

-Buộc công ty cổ phần mía đường HH trả tiền lương tháng 01, 02/2016 cho ông L là 8.832.000 đồng ( Tám triệu tám trăm ba mươi hai ngàn đồng).

Tổng cộng: 44.160.000 đồng (Bốn mươi bốn triệu một trăm sáu mươi ngàn đồng).

Áp dụng Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tính lãi chậm thi hành.

2/ Án phí: Ông Huỳnh Văn L không phải chịu án phí. Công ty cổ phần mía đường HH phải chịu 1.324.800 đồng (Một triệu ba trăm hai mươi ngàn tám trăm đồng) án phí lao động sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.


171
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về