Bản án 12/2019/HNGĐ ngày 13/06/2019 về tranh chấp hôn nhân gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ, TNH BẮC NINH

BẢN ÁN 12/2019/HNGĐ NGÀY 13/06/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

Ngày 13 tháng 6 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Võ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 73/2019/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2019 về tranh chấp hôn nhân gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1970.

HKTT: Thất Gian, Châu Phong, Quế Võ, Bắc Ninh. Đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Trần Đăng A, sinh năm 1970. Vắng mặt.

HKTT: Thất Gian, Châu Phong, Quế Võ, Bắc Ninh.

Hiện Anh A đang chấp hành hình phạt tù tại Phân trại 1, Đội 9, Trại giam Ngọc Lý- Cục C10- Bộ Công An. Địa chỉ: Kim Tràng, Tân Yên, Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nguyên đơn là chị Nguyễn Thị P trình bày: Tôi kết hôn với Anh Trần Đăng A ngày 20/12/1989, trên cơ sở tự nguyện, tuân thủ các quy định của pháp luật, đăng ký kết hôn ở UBND xã Châu Phong, Quế Võ, Bắc Ninh. Sau khi cưới tôi chuyển khẩu về cùng hộ khẩu nhà chồng và chung sống ở Thất Gian, Châu Phong, Quế Võ, Bắc Ninh.

Quá trình vợ chồng chung sống chỉ hạnh phúc được thời gian ngắn, sau đó hoàn toàn không có hạnh phúc. Nguyên nhân chủ yếu là do Anh A thường giao du kết bạn với người xấu, không chịu khó làm ăn, hay chơi bời cờ bạc, nghiện ngập ma túy. Vào đầu năm 1996 Anh A vi phạm pháp luật và bị xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đến tháng 12/2003 Anh A lại tiếp tục phạm tội và sau đó bị xử phạt 48 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Năm 2005 Anh A được đặc xá tha tù, nhưng đến năm 2006 lại bị Tòa án tỉnh Nam Định xử phạt 11 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Sau khi ra tù, năm 2017 anh A lại bị Tòa án Quế Võ xử phạt 42 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Hiện anh A đang chấp hành hình phạt tù tại Phân trại 1, Đội 9, Trại giam Ngọc Lý- Cục C10- Bộ Công A. Tôi đã khuyên can anh A nhiều, nhưng anh A không hề thay đổi, cứ phạm tội hết lần này đến lần khác, đến nay đã phạm tội 4 lần rồi. Mặc dù anh A đi thi hành án phạt tù nhiều lần, nhưng lần nào tôi vẫn thực hiện việc thăm nuôi anh A đều đặn, đầy đủ theo bổn phận của người vợ có chồng đi tù. Ở nhà tôi phải thay anh A đảm nhiệm toàn bộ công việc gia đình, con cái. Nhưng cứ hễ ra tù anh A lại giao du với những người xấu, tiếp tục mua bán, sử dụng ma túy. Tôi góp ý thì lại đánh đập tôi thô bạo, thậm tệ, gây thương tích, đau đớn thể xác cho tôi mà không thương tiếc.

Khi anh A phạm tội lần thứ 4, tôi đã nêu vấn đề vợ chồng ly hôn để anh A biết. Tôi nói với anh A chỉ thăm nuôi anh A nốt lần này là lần cuối cùng, vì tôi quá mệt mỏi rồi, không thể chịu đựng được nữa và tôi sẽ quyết tâm ly hôn anh A.

Nay tôi thấy vợ chồng không còn tình cảm với nhau nữa, nên tôi xin ly hôn anh A, đề nghị Tòa án giải quyết cho chúng tôi ly hôn càng sớm càng tốt.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con là Trần Thị Loan, sinh ngày 17/8/1990; Trần Thị Hà, sinh ngày 26/6/1992 và Trần Hải Đăng, sinh ngày 07/92/1995. Nay cả 03 cháu đã trưởng thành, cháu Loan và cháu Hà đã lập gia đình riêng, nên tôi không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, công sức, công nợ, đất ruộng vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra tôi không yêu cầu gì khác.

Đối với bị đơn là anh Trần Đăng A, hiện anh A đang chấp hành hình phạt tù ở Phân trại 1, Đội 9, Trại giam Ngọc Lý- Cục C10- Bộ Công A. Địa chỉ: Kim Tràng, Tân Yên, Bắc Giang. Theo bản án số 49 ngày 23/02/2017 của Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, xử phạt anh A 42 tháng tù. Tòa án đã giao thông báo thụ lý vụ án cho anh A, tiến hành lấy lời khai anh A, mở phiên họp và hòa giải tại Trại giam Ngọc Lý, nhưng anh A không nhất trí ly hôn. Tòa án đã làm thủ tục đưa ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử và nghị án. Tất cả đều đã đảm bảo tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị HĐXX xem xét, quyết định chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị P. Về con chung: Hiện các con đã trưởng thành nên các bên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản, công sức vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị P phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA N

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Chị Nguyễn Thị P kết hôn với Anh Trần Văn A ngày 20/12/1989, trên cơ sở tự nguyện, tuân thủ các quy định của pháp luật, đăng ký kết hôn ở UBND xã Châu Phong, Quế Võ, Bắc Ninh. Nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi cuới chị P chuyển khẩu về cùng hộ khẩu nhà anh A ở Châu Phong, Quế Võ, Bắc Ninh.

Theo chị P trình bày, thời gian ngắn ban đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau hoàn toàn không có hạnh phúc. Nguyên nhân chủ yếu là do anh A thường giao du kết bạn với người xấu, không chịu khó làm ăn, hay chơi bời cờ bạc, nghiện ngập ma túy. Vào đầu năm 1996 anh A vi phạm pháp luật và bị xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đến tháng 12/2003 anh A lại tiếp tục phạm tội và sau đó bị xử phạt 48 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Năm 2005 anh A được đặc xá tha tù, nhưng đến năm 2006 lại bị Tòa án tỉnh Nam Định xử phạt 11 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Sau khi ra tù, năm 2017 anh A lại bị Tòa án Quế Võ xử phạt 42 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Hiện anh A đang chấp hành hình phạt tù tại Phân trại 1, Đội 9, Trại giam Ngọc Lý- Cục C10- Bộ Công A. Chị đã khuyên can Anh A nhiều, nhưng anh A không hề thay đổi, cứ phạm tội hết lần này đến lần khác, đến nay đã phạm tội 4 lần rồi. Theo bản án số 49 ngày 23/02/2017 cuả Tòa án nhân dân huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh, xác định lời trình bày trên của chị P là có căn cứ. Cũng theo chị P trình bày, mặc dù anh A đi thi hành án phạt tù nhiều lần, nhưng lần nào chị vẫn thực hiện việc thăm nuôi anh A đều đặn, đầy đủ theo bổn phận của người vợ có chồng đi tù. Ở nhà chị phải thay anh A đảm nhiệm toàn bộ công việc gia đình, con cái. Nhưng cứ hễ ra tù anh A lại giao du với những người xấu, tiếp tục mua bán, sử dụng ma túy. Chị góp ý thì anh A lại đánh đập chị thô bạo, thậm tệ, gây thương tích, đau đớn thể xác cho chị mà không thương tiếc. Khi anh A phạm tội lần thứ 4, chị đã nêu vấn đề vợ chồng ly hôn để anh A biết. Chị nói với Anh A là chỉ thăm nuôi anh A nốt lần này là lần cuối cùng, vì chị đã quá mệt mỏi rồi, không thể chịu đựng được nữa và chị sẽ quyết tâm ly hôn anh A.

Nay chị thấy vợ chồng không còn tình cảm với nhau nữa, nên xin ly hôn anh A, đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn càng sớm càng tốt.

Xét yêu cầu ly hôn của chị P là có căn cứ, phù hợp pháp luật và thực tế. Nên cần chấp nhận để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị P, của người phụ nữ theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con là Trần Thị Loan, sinh ngày 17/8/1990; Trần Thị Hà, sinh ngày 26/6/1992 và Trần Hải Đăng, sinh ngày 07/92/1995. Nay cả 03 con đều đã đủ 18 tuổi, phát triển bình thường nên theo quy định của pháp luật Tòa án không can thiệp giải quyết.

Về tài sản chung, công sức, công nợ, đất ruộng vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị P phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 51, 56 - Luật hôn nhân và gia đình. Điều 235, 147- Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

Xử: Chị Nguyễn Thị P được ly hôn anh Trần Văn A.

Về án phí: Chị P phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị P đã nộp 300.000đ tạm ứng án phí LHST tại biên lai số: 02906 ngày 04/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

Chị P, anh A có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án./.


20
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 12/2019/HNGĐ ngày 13/06/2019 về tranh chấp hôn nhân gia đình

Số hiệu:12/2019/HNGĐ
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Quế Võ - Bắc Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:13/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về