Bản án 122/2019/HC-PT ngày 14/08/2019 về khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính lĩnh vực quản lý đất đai

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 122/2019/HC-PT NGÀY 14/08/2019 VỀ KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH, HÀNH VI HÀNH CHÍNH LĨNH VỰC QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Vào ngày 14 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 118/2019/TLPT-HC ngày 21 tháng 3 năm 2019 về “Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về lĩnh vực quản lý đất đai”. Do Bản án hành chính sơ thẩm số 63/2018/HC-ST ngày 09 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 903/2019/QĐ-PT ngày 02/8/2019, giữa các đương sự:

* Người khởi kiện: Bà Bùi Thị H, sinh năm 1937; Địa chỉ: Tổ 13, thôn Đ, xã C, thành phố H1, tỉnh Quảng Nam; Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Tuấn V, sinh năm 1969; Địa chỉ: Tổ 13, thôn Đ, xã C, thành phố H1, tỉnh Quảng Nam; Có mặt.

* Người bị kiện:

+ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam; Địa chỉ: tỉnh Quảng Nam.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Trí T, chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam; Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam: Ông Trần Thanh H2, chức vụ: Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Nam; Vắng mặt.

+ Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H1, tỉnh Quảng Nam; Địa chỉ: Số 09 đường Tr, thành phố H1, tỉnh Quảng Nam.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thế H3, chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H1, tỉnh Quảng Nam; Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chủ tịch UBND thành phố H1: Ông Nguyễn X - Thành viên Chi hội Luật gia Viện kiểm sát nhân dân thành phố H1; Có mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Bùi Phước N, sinh năm 1964; địa chỉ: Tổ 13, thôn Đ, xã C, thành phố H1, tỉnh Quảng Nam; Có mặt.

Người kháng cáo: Bùi Thị H.

 NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản án sơ thẩm nội dung vụ án như sau: Tại đơn khởi kiện của người khởi kiện bà Bùi Thị H và lời trình bày của đại diện theo ủy quyền cho người khởi kiện ông Võ Tuấn V trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa thì ý kiến của người khởi kiện như sau:

Bà Bùi Thị H là chủ hộ gia đình sử dụng phần diện tích đất 1181,6 m2 tại thôn Đ, xã C, thành phố H1, tỉnh Quảng Nam. Ngày 05/7/1999, gia đình bà được Ủy ban nhân dân thành phố H1 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I 245233 đối với thửa đất số 185, tờ bản đồ số 10, diện tích 522m2. Phần diện tích đất còn lại vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận. Đến năm 2013, bà H làm hồ sơ xin chỉnh lý biến động đối với thửa đất số 185 tăng lên theo hiện trạng đang sử dụng và đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H1 thống nhất.Trong quá trình thực hiện việc chỉnh lý diện tích, do không biết diện tích đất cụ thể là bao nhiêu nên khi Văn phòng đăng ký đất đai xác định diện tích tăng từ 552 m2 lên 1123,6 m2 thì bà H đã đồng ý. Sau này, khi xem bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất bà mới biết thửa đất của bà còn 58m2 chưa được chỉnh lý vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do không ai hướng dẫn, nói năng gì nên bà cứ tưởng là sau này có thể chỉnh lý thêm được. Vì phần đất 58m2 này gia đình bà sử dụng ổn định không có tranh chấp, hiện gia đình bà vẫn canh tác và nằm trong khuôn viên khép kín của gia đình bà. Thế nhưng đến năm 2016, khi bà làm hồ sơ xin chỉnh lý diện tích đối với 58m2 thì Ủy ban nhân dân thành phố H1 ban hành công văn số 5173/UBND với nội dung không cho phép giải quyết hồ sơ chỉnh lý diện tích của bà. Không thống nhất với cách giải quyết của Ủy ban nhân dân thành phố H1, ngày 06/2/2017, bà làm đơn khiếu nại Công văn số 5173 và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H1 trả lời rằng diện tích 58m2 là được gia đình bà sử dụng sau ngày 01/7/2014 do cơi nới sang phần diện tích đất nhà nước quản lý nên không xem xét giải quyết yêu cầu của bà theo Quyết định số 1092/QĐ-UBND ngày 18/5/2017. Bà tiếp tục khiếu nại đến Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam, ngày 19/10/2017, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam ban hành Quyết định số 3707/QĐ-UBND với nội dung công nhận và giữ nguyên Quyết định số 1092 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H1. Bà không đồng ý với Quyết định số 3707 và 1092.

Vì vậy, bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề cụ thể như sau:

 - Hủy Quyết định số 3707/QĐ-UBND ngày 19/10/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam về việc giải quyết khiếu nại của bà Bùi Thị H.

- Hủy Quyết định số 1092/QĐ-UBND ngày 18/5/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H1, tỉnh Quảng Nam về việc giải quyết khiếu nại của bà Bùi Thị H.

- Buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H1, tỉnh Quảng Nam giải quyết khiếu nại lại, cho phép bà Bùi Thị H chỉnh lý biến động thửa đất số 185, tờ bản đồ số 10, diện tích 58m2 tại thôn Đ, xã C, thành phố H1, tỉnh Quảng Nam theo đúng quy định pháp luật.

Tại văn bản số 4350/UBND-NC ngày 07/8/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam thì ý kiến của người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam như sau:

Ngày 19/10/2017, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam ban hành Quyết định số 3707/QĐ-UBND, không công nhận nội dung khiếu nại của bà Bùi Thị H. Hồ sơ đăng ký đất đai theo Quyết định số 201-CP thì phần diện tích bà H có đơn khiếu nại thuộc một phần của khu đất trống (không thể hiện số thửa, diện tích), tờ bản đồ số 02. Bản đồ 64/CP đã được Ủy ban nhân dân xã C xác nhận ngày 26/11/1996, Sở Địa Chính tỉnh Quảng Nam phê duyệt ngày 21/5/1997 thì phần diện tích bà Bùi Thị H khiếu nại thuộc một phần của thửa đất số 187, tờ bản đồ số 10, diện tích 16.770 m2, loại đất N+ (nghĩa địa) và thể hiện tại sổ mục kê là loại đất nghĩa địa do Ủy ban nhân dân xã C quản lý. Hồ sơ mới VN2000, bản đồ tỷ lệ 1/500 thì phần diện tích 58m2 bà H khiếu nại thuộc một phần của thửa đất số 40, tờ bản đồ số 21, diện tích 598m2, loại đất ở nông thôn do ông Bùi Phước N kê khai. Như vậy, đối với phần diện tích đất bà Bùi Thị H đang khiếu nại không cùng thửa đất số 185, tờ bản đồ số 10, có diện tích 552m2 mà Ủy ban nhân dân thành phố H1 đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Bùi Thị H vào ngày 05/7/1999. Ngày 06/9/2013, Văn phòng đăng ký đất đai thành phố H1 đã chỉnh lý biến động tăng diện tích đối với thửa đất số 185, tờ bản đồ số 10, diện tích 522m2 thành 1.123,6m2, bà Bùi Thị H đã thống nhất và không khiếu nại đối với phần diện tích đất đã được chứng nhận biến động vào giấy chứng nhận đã cấp. Ngoài ra, theo bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất do Văn phòng đăng ký đất đai thành phố H1 lập ngày 20/8/2014 thì phần diện tích đất 58m2 là loại đất bằng chưa sử dụng và bà Bùi Thị H đã thống nhất về ranh giới, mốc giới thửa đất, diện tích của thửa đất số 185, tờ bản đồ số 10, diệ tích 1.123,6m2. Do vậy, việc bà Bùi Thị H yêu cầu Ủy ban nhân dân thành phố H1 chỉnh lý biến động với diện tích 58 m2, loại đất trồng cây lâu năm gắn liền với đất ở là không có cơ sở để xem xét giải quyết. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam bác yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị H đối với Quyết định số 3707/QĐ-UBND ngày 19/10/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam.

Tại văn bản số 2466/UBND-NC ngày 20/7/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố H1, tỉnh Quảng Nam thì ý kiến của người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H1, tỉnh Quảng Nam như sau:

Phần diện tích đất 58m2 bà Bùi Thị H yêu cầu chỉnh lý biến động tăng có nguồn gốc như sau: Hồ sơ đăng ký theo Quyết định 201/CP là một phần diện tích của thửa đất cồn cát hoang, tờ bản đồ số 02, do Ủy ban nhân dân xã C quản lý. Hồ sơ đăng ký theo Nghị định 64/CP là một phần thửa đất số 187, tờ bản đồ số 10, diện tích 16.770m2, loại đất nghĩa địa do Nhà nước quản lý. Hồ sơ đo mới hệ tọa độ VN.2000 thuộc một phần thửa đất số 40, tờ bản đố số 21, diện tích 598m2, loại đất ở nông thôn do ông Bùi Phước N kê khai, đăng ký.

Năm 2016, bà Bùi Thị H có đơn xin chỉnh lý biến động diện tích thửa đất số 185, tờ bản đồ số 10 tăng 58m2. Qua xem xét, Ủy ban nhân dân thành phố H1 không có cơ sở giải quyết chỉnh lý biến động như bà H yêu cầu. Ngày 06/02/2017, bà Bùi Thị H khiếu nại và đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H1 giải quyết bằng Quyết định số 1092/QĐ-UBND ngày 18/5/2017 là đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam bác yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị H về việc hủy Quyết định số 1092/QĐ-UBND ngày 18/5/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H1, tỉnh Quảng Nam; buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H1, tỉnh Quảng Nam giải quyết khiếu nại lại, cho phép bà Bùi Thị H chỉnh lý biến động thửa đất số 185, tờ bản đồ số 10, diện tích 58m2 tại thôn Đ, xã C, thành phố H1, tỉnh Quảng Nam theo đúng quy định pháp luật.

Tại các văn bản đã gửi cho Tòa án thì ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Phước N như sau:

Nguyên diện tích đất 58m2 mà bà Bùi Thị H khởi kiện là đất thuộc phạm vi trong vườn của gia đình ông khai hoang từ năm 1997 để trồng trọt. Sau này xảy ra tranh chấp với bà Bùi Thị H thì gia đình ông đã giao diện tích đất này cho Nhà nước quản lý. Ông yêu cầu bác đơn khởi kiện của bà Bùi Thị H.

Với nội dung nêu trên tại bản án hành chính sơ thẩm số 63/2018/HC- ST ngày 09 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 khoản 2 khoản 3 khoản 4 Điều 3; khoản 1 Điều 30; khoản 3 khoản 4 Điều 32; Điều 116; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính; Tuyên xử:

1. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện bà Bùi Thị H về việc:

 - Hủy Quyết định số 3707/QĐ-UBND ngày 19/10/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam về việc giải quyết khiếu nại của bà Bùi Thị H.

- Hủy Quyết định số 1092/QĐ-UBND ngày 18/5/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H1, tỉnh Quảng Nam về việc giải quyết khiếu nại của bà Bùi Thị H.

- Buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H1, tỉnh Quảng Nam giải quyết khiếu nại lại, cho phép bà Bùi Thị H chỉnh lý biến động thửa đất số 185, tờ bản đồ số 10, diện tích 58m2 tại thôn Đ, xã C, thành phố H1, tỉnh Quảng Nam.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự. Ngày 23 tháng 11 năm 2018, bà Bùi Thị H kháng cáo bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bà Bùi Thị H vẫn giữ nguyên đơn khởi kiện và đơn kháng cáo.

Trong phần phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng cho rằng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử chấp hành đúng các quy định của Luật Tố tụng hành chính, các đương sự thực hiện đúng quyền nghĩa vụ của mình. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo của bà Bùi Thị H sửa quyết định của bản án sơ thẩm, theo hướng chấp nhận đơn khởi kiện của bà H.

Căn cứ các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét đánh giá khách quan, toàn diện và đầy đủ chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Bà Bùi Thị H khiếu nại yêu cầu Ủy ban nhân dân thành phố H1, tỉnh Quảng Nam chỉnh lý biến động cho gia đình bà đối với diện tích tăng thêm 58m2 tại thửa đất 185 tờ bản đồ số 10 loại đất trồng cây lâu năm gắn liền với đất ở tại thôn Đ, xã C, thành phố H1, nhưng không được Ủy ban nhân dân thành phố H1 chấp nhận. Căn cứ vào hồ sơ địa chính, bản đồ đo các cơ quan có thẩm quyền quản lý xác lập cũng như quá trình quản lý sử dụng đất của bà H xét thấy:

[1.1] Diện tích đất bà H khiếu nại thuộc một phần của thửa đất 187, tờ bản đồ số 10, diện tích 16.770m2, loaị đất N+( đất nghĩa địa) do Ủy ban nhân dân xã C quản lý không nằm trong cùng thửa đất 185, tờ bản đồ số 10, diện tích 1,123,6m2 có nhà ở của bà H.

[1.2] Ngày 17 tháng 4 năm 2013, bà H có đơn đề nghị đăng ký biến động về quyền sử dụng đất với nội dung “Chỉnh lý biến động theo hiện trạng sử dụng thực tế” (BL63). Ngày 06/9/2013, Văn phòng đăng ký đất đai thành phố H1 đã chỉnh lý biến động tăng diện tích đối với thửa đất số 185, tờ bản đồ số 10, diện tích 522m2 thành 1.123,6m2.

Xét thấy: Tại biên bản xen xét thẩm định tại chỗ ngày 30 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam thực hiện theo ủy thác của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng thể hiện: Diện tích 58m2 đất hiện nay đang do bà H quản lý sử dụng, được xây tường rào ngăn cách với các hộ bên cạnh và có trồng cây cối trên đất. Tại sơ đồ do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Nam lập khi giải quyết tranh chấp đối với diện tích đất 297m2 nằm cạnh diện tích 58m2 thể hiện; “diện tích 58m2 do bà H sử dụng và chưa được cấp Giấy chứng nhận QSD đất”. Xét ý kiến của người bị kiện cho rằng diện tích 58m2 thể hiện theo hồ sơ VN2000 bản đồ tỷ lệ lệ 1/500 là do ông N kê khai đăng ký. Tuy nhiên tại biên bản làm việc ngày 20 tháng 2 năm 2017 (BL117) của Thanh tra Sở tài nguyên môi trường tỉnh Quảng Nam và ông Bùi Phước N thể hiện: Ông N không kê khai đăng ký đối với diện tích đất 297m2 còn đối với diện tích đất 58m2 tại phiên tòa hôm nay ông N cũng khẳng định không đăng ký, kê khai. Tại biên bản ngày 20 tháng 2 năm 2017 ông N cũng nhất trí để cho bà H sử dụng với lý do để cho ranh giới thửa đất của 02 hộ được thẳng. Từ những nội dung nêu trên thấy rằng: hộ gia đình bà H đang sử dụng đất và không có tranh chấp với ông N, do vậy bà H được thực hiện quyền của người sử dụng đất, đồng thời cũng phải thực hiện nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai. Việc Ủy ban nhân dân thành phố H1 không thực hiện việc chỉnh lý biến động hoặc hướng dẫn người dân làm các thủ tục đăng ký QSD đất là không phù hợp với quy định của pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H1, cho rằng nếu bà H đủ điều kiện được cấp GCNQSD đất đối với diện tích 58m2, thì cơ quan có thẩm quyền sẽ cấp GCNQSD đất cho bà H.

[2]. Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Bản án sơ thẩm không chấp nhận đơn khởi kiện của bà H là không có căn cứ. Do vậy đơn kháng cáo của bà H là có cơ sở chấp nhận.

[3]. Án phí: Bà Bùi Thị H không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 241 Luật tố tụng hành chính. Chấp nhận đơn kháng cáo của bà Bùi Thị H.

Sửa quyết định của bản án hành chính sơ thẩm số 63/2018/HC-ST ngày 09 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam:

Căn cứ khoản 1, khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 3; khoản 1 Điều 30; khoản 3, khoản 4 Điều 32; Điều 116; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện bà Bùi Thị H - Hủy Quyết định số 3707/QĐ-UBND ngày 19/10/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam về việc giải quyết khiếu nại của bà Bùi Thị H.

- Hủy Quyết định số 1092/QĐ-UBND ngày 18/5/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H1, tỉnh Quảng Nam về việc giải quyết khiếu nại của bà Bùi Thị H.

- Buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H1, tỉnh Quảng Nam giải quyết khiếu nại lại, cho phép bà Bùi Thị H chỉnh lý biến động, hoặc hướng dẫn làm thủ tục đăng ký QSD đất thửa đất, diện tích 58m2 tại thôn Đ, xã C, thành phố H1, tỉnh Quảng Nam.

2. Về án phí hành chính phúc thẩm: bà Bùi Thị H không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.


45
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về