Bản án 123/2018/HS-ST ngày 25/10/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

BẢN ÁN 123/2018/HS-ST NGÀY 25/10/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 25 tháng 10 năm 2018, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 125/2018/TLST-HS, ngày 18 tháng 9 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2018/ HSST-QĐ ngày 10 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:

DƯƠNG VĂN M, sinh năm: 1989, tại huyện P, tỉnh Thái Nguyên Nơi cư trú: Xóm M, xã U, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Dương Văn M (đã chết) và bà: Dương Thị C, sinh năm: 1953; Vợ: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/8/2018 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt)

Người chứng kiến:

1. Ông Dương Văn N, sinh năm 1968

Nơi cư trú: Xóm M, xã U, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)

2. Ông Dương Xuân K, sinh năm 1960

Nơi cư trú: Xóm T, xã U, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 15/8/2018, Tổ công tác Công an huyện Phú Bình phối hợp cùng Công an xã U đang làm nhiệm vụ tại khu vực xóm N, xã U, huyện P, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện Dương Văn M, sinh năm 1989, trú tại xóm N, xã U, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu M cho kiểm tra M đã tự giác lấy từ trong túi áo ngực bên trái đang mặc ra 01 gói giấy nilon màu đen, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng và giao nộp cho Tổ công tác. Theo M khai đó là ma túy (Hêrôin) của M vừa đi mua về mục đích để sử dụng cho bản thân. Qua kiểm tra người M tổ công tác còn thu giữ 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 1202 màu xanh máy cũ đã qua sử dụng. Tổ công tác tiến hành lập bên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định (ký hiệu A) và (ký hiệu B) đưa M về trụ sở Công an để làm rõ.

Hồi 14 giờ ngày 15/8/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Bình đã tiến hành Lệnh khám xét khẩn cấp đối với đồ vật, nơi ở, khu vực xung quanh nơi ở của Dương Văn M tại Xóm M, xã U, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Kết quả không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì có liên quan đến vụ án.

Hồi 13 giờ ngày 15/8/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Bình phối hợp cùng Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên mở niêm phong (ký hiệu A), cân xác định trọng lượng, lấy mẫu gửi giám định. Kết quả 01 gói nilon màu đen bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng (ký hiệu A) có tổng khối lượng là 0,131 gam. Lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định ký hiệu A1.

Tại bản kết luận giám định số 971/KL-PC54, ngày 21/8/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận số chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của M trong mẫu niêm phong (ký hiệu A1) gửi giám định là chất ma túy Hêrôin, có khối lượng là 0,131 gam.

Hồi 10 giờ 30 phút ngày 27/8/2018 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Bình tiến hành mở niêm phong (ký hiệu B) kiểm tra chiếc điện thoại hiệu Nokia 1202 màu xanh thu giữ của M. Kết quả kiểm tra bật điện thoại lên nguồn nhưng do màn hình bị hỏng nên không kiểm tra được các nội dung bên trong.

Tại cơ quan điều tra Dương Văn M khai nhận: Do bản thân mắc nghiện chất ma túy nên thường xuyên đi mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khoảng 8 giờ sáng ngày 15/8/2018, M đi một mình từ nhà đến khu vực gần hồ N, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên mua của một người đàn ông tên L không rõ lai lịch địa chỉ 01 gói ma túy (Hêrôin) với giá 100.000 đồng. Nhận được ma túy M cho vào túi áo ngực rồi đi về đến khu vực xóm N, xã U, huyện P thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.

Tại bản Cáo trạng số 124/CT-VKSPB ngày 15 tháng 9 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình đã truy tố bị cáo Dương Văn M về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Dương Văn M vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại cơ quan điều tra và khẳng định bốn gói ma túy có khối lượng 0,131 gam bị Công an thu giữ là của M mua về để bản thân sử dụng.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình sau khi phân tích, đánh giá chứng cứ, nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo đã kết luận: giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị với Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Dương Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Dương Văn M từ 24 đến 30 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Đề nghị xử lý các vật chứng đã thu giữ theo Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước theo quy định của pháp luật.

Kết thúc phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt thấp nhất cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên - Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên; của Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và lời khai đó có căn cứ chấp nhận vì đã đúng như nội dung cáo trạng truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang và lời khai của những người tham gia tố tụng khác. Như vậy có đủ cơ sở xác định: Do bản thân là đối tượng nghiện chất ma túy nên k hoảng 08 giờ 45 phút ngày 15/8/2018, tại khu vực xóm N, xã U, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Dương Văn M đã thực hiện hành vi cất giữ trên người 01 gói nhỏ chất bột dạng cục màu trắng qua giám định là chất Hêrôin có trọng lượng (khối lượng) là 0,131 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Công an phát hiện bắt quả tang thu giữ cùng vật chứng.

Với hành vi trên bị cáo Dương Văn M bị truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Nội dung Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)...

c) Hêrôin ...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.

2...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Khung hình phạt mà bị cáo phải chịu trách nhiệm thuộc trường hợp là tội phạm nghiêm trọng. Bị cáo nhận thức rõ về tác động của tội phạm do mình gây ra sẽ ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự của địa phương là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm hình sự khác. Hành vi đó của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần phải xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thấy: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi thực hiện tội phạm của mình. Do đó bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Xét nhân thân, tính chất mức độ tội phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc một mức án tương ứng với 02 năm tù là phù hợp với quy định của pháp luật.

[4] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy bị cáo là người không có thu nhập, đang ở cùng với gia đình, điều kiện kinh tế còn khó khăn, bản thân bị cáo lại là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản riêng gì. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xử lý vật chứng như sau:

Đối với vật chứng là 01 bì niêm phong (ký hiệu A1) bên trong có chứa 0,077 gam ma túy (Hêrôin) được hoàn lại sau giám định, xét thấy đây là vật chứng không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với vật chứng là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1202 màu xanh máy cũ đã qua sử dụng của bị cáo Dương Văn M cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

[6] Về bắt tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: Căn cứ vào Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử ra Quyết định tạm giam bị cáo Dương Văn M với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội về tội danh, mức hình phạt chính, xử lý vật chứng vụ án là phù hợp với quy định của Pháp luật cần chấp nhận.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cần buộc bị cáo phải chịu một khoản án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ, áp dụng pháp luật:

- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự;

- Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 326; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt chính: Xử phạt Dương Văn M 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15 tháng 8 năm 2018.

3. Về bắt tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: Ra Quyết định tạm giam bị cáo Dương Văn M với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

4. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có chứa 0,077 gam ma túy Hêrôin hoàn lại sau giám định.

- Tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1202 màu xanh máy cũ đã qua sử dụng của bị cáo Dương Văn M để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/10/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra của Công an huyện Phú Bình và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình).

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Dương Văn M phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo Dương Văn M, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.


25
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 123/2018/HS-ST ngày 25/10/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:123/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phú Bình - Thái Nguyên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:25/10/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về