Bản án 124/2018/DS-PT ngày 26/11/2018 về tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU

BẢN ÁN 124/2018/DS-PT NGÀY 26/11/2018 VỀ TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO SỨC KHỎE BỊ XÂM PHẠM

Ngày 26 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 111/2018/TLPT-DS ngày 01 tháng 11 năm 2018 về: Tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2018/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Bạc Liêu bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2018/QĐ-PT ngày 02 tháng 11 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Kiều X, sinh năm 1993 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Bạc Liêu.

- Bị đơn:

1. Bà Cao Kim N, sinh năm 1956. Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).

2. Chị Lê Thị Thu N1, sinh năm 1991. Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của chị Lê Thị Thu N1: Bà Cao Kim N, sinh năm 1956; địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Bạc Liêu (theo giấy ủy quyền ngày 16/11/2018 – có mặt).

Người kháng cáo: Bị đơn chị Lê Thị Thu N1

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 23/3/2018 và lời trình bày của nguyên đơn chị Lê Kiều X trình bày: Khoảng 16 giờ ngày 09/3/2017, ông Ngô Vũ P (con ruột bà Cao Kim N) thuê máy cuốc vào cuốc phần đất đang tranh chấp với ông Lê Hoàng G (cha ruột chị X), sau khi nghe gia đình điện thoại báo tin, chị điều khiển xe gắn máy về nhà để cùng giải quyết sự việc, trên đường về ngang qua nhà ông P, chị gặp bà Cao Kim N đang ngồi vuốt chổi (cặp bờ sông) nên dừng xe lại nói chuyện với bà Kim N về việc đất đang tranh chấp chờ cơ quan Nhà nước giải quyết nhưng vì sao gia đình bà Kim N thuê máy cuốc vào cuốc phần đất tranh chấp thì hai bên phát sinh cự cãi, lời qua tiếng lại với nhau. Trong lúc đó, con dâu của bà Kim N là chị Lê Thị Thu N1 đi đến dùng tay đánh vào đầu chị hai cái, bà Kim N không can ngăn mà còn giữ tay của chị lại để chị Thu N1 đánh liên tiếp vào vùng mặt, đầu chị gây thương tích. Sự việc được mọi người can ngăn và Công an xã T đến hiện trường lập biên bản sự việc. Sau khi bị bà Kim N và chị Thu N1 đánh, chị đã đến Bệnh viện Quân Dân y tỉnh Bạc Liêu điều trị thương tích từ tối ngày 09/3/2017 đến sáng ngày 16/3/2017 xuất viện. Nay chị X yêu cầu bà Cao Kim N và chị Lê Thị Thu N1 cùng liên đới bồi thường chi phí điều trị thương tích là 2.157.000 đồng, tiền mất thu nhập của chị 10 ngày x 200.000 đồng/ngày = 2.000.000 đồng, tiền công người nuôi bệnh 07 ngày x 120.000 đồng = 840.000 đồng, tiền ăn người bệnh và người nuôi bệnh 07 ngày x 50.000đ/người x 02 người = 700.000 đồng. Tổng cộng là: 5.697.000 đồng.

Bị đơn bà Cao Kim N trình bày: Khoảng 16 giờ ngày 09/3/2017, chị Lê Kiều X điều khiển xe gắn máy đến trước nhà của bà và dùng nhiều lời lẽ thô tục chửi bà, thấy vậy con dâu của bà là Lê Thị Thu N1 từ trong nhà bước ra yêu cầu X không tiếp tục dùng lời lẽ thô tục chửi bà, nhưng X vẫn tiếp tục dùng nhiều lời lẽ xúc phạm đến danh dự của bà nên giữa Thu N1 và X phát sinh mâu thuẫn, Thu N1 có dùng tay đánh trúng vào nón bảo hiểm của X đang đội trên đầu 02 cái nhưng X không bị thương tích gì, sau đó X xuống xe dùng nón bảo hiểm đánh lại Thu N1 trúng vào vai và trước người Thu N1 vài cái nên bà đến can ngăn Thu N1 ra, sau đó ông P1 ở gần nhà đến can ngăn X ra, sự việc đánh nhau kết thúc. Nay chị X yêu cầu bà bồi thường chi phí điều trị thương tích, tiền ăn, tiền mất thu nhập…tổng số tiền là 5.697.000 đồng thì bà không đồng ý bồi thường, vì bà không tham gia đánh và gây thương tích cho chị X.

- Bị đơn chị Lê Thị Thu N1: Chị Thu N1 không trình bày ý kiến, mặc dù đã được Tòa án nhiều lần triệu tập làm việc, hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng chị Thu N1 đều vắng mặt. Theo biên bản lấy lời khai ngày 15/3/2017 tại Công an xã T, huyện V, tỉnh Bạc Liêu (bút lục 41-42), chị Lê Thị Thu N1 trình bày: Khoảng 17 giờ ngày 09/3/2017, chị Lê Kiều X điều khiển xe đến nhà của gia đình chị và dùng nhiều lời lẽ xúc phạm đến danh dự của mẹ chồng chị là bà Cao Kim N nên chị đi đến chỗ chị X đang đứng yêu cầu chị X ngừng không tiếp tục xúc phạm đến danh dự của bà Kim N nhưng chị X không ngừng mà còn tiếp tục dùng lời lẽ xúc phạm đến bà Kim N, nên chị đã dùng tay đánh trúng vào nón bảo hiểm mà chị X đang đội trên đầu 02 cái, sau đó chị X dùng nón bảo hiểm đánh lại chị thì được bà Kim N và ông P1 (gần nhà chị) đến can ngăn và ông M là Trưởng ấp C đến yêu cầu chị X về nhà. Nay chị X yêu cầu chị bồi thường thiệt hại về sức khỏe thì chị không đồng ý.

Từ những nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2018/DS-ST ngày 25/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Bạc Liêu quyết định:

Căn cứ vào khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 584, 589 và 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Mục 1 phần I Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 1, khoản 4 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Lê Kiều X đối với chị Lê Thị Thu N1 về việc tranh chấp bồi thường thiệt hại về sức khỏe.

2. Buộc chị Lê Thị Thu N1 bồi thường cho chị Lê Kiều X 5.097.000 đồng (Năm triệu không trăm chín mươi bảy nghìn đồng).

3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Kiều X đòi bà Cao Kim N cùng phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về áp dụng lãi suất, áp dụng Luật Thi hành án dân sự trong giai đoạn thi hành án, về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 22/10/2018, chị Lê Thị Thu N1 có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm số 36/2018/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Bạc Liêu theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Kiều X. Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của chị Lê Thị Thu N1 vẫn giữ nguyên kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của chị Lê Thị Thu N1, sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng buộc chị Lê Thị Thu N1 bồi thường cho chị Lê Kiều X 70% chi phí điều trị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 [1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, nghe ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

 [2] Đơn kháng cáo của bị đơn chị Lê Thị Thu N1 nộp trong hạn luật định, nên được chấp nhận xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

 [3] Xét kháng cáo của của chị Lê Thị Thu N1 về việc yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Kiều X.

 [4] Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyên đơn chị Lê Kiều X, bị đơn bà Cao Kim N và chị Lê Thị Thu N1 thống nhất trình bày: Khoảng 16 giờ ngày 09/3/2017 tại sân trước nhà bà Cao Kim N, ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Bạc Liêu có xảy ra xô xát do chị Thu N dùng tay đánh vào vùng đầu chị Kiều X 02 cái.

Chị Kiều X xác định chị Thu N1 dùng tay đánh trúng trực tiếp vào đầu của chị,còn bà Kim N và chị Thu N1 xác định chị Thu N1 đánh 02 cái trúng vào nón bảo hiểm do chị Kiều X đang đội. Sau đó, chị Kiều X đến Bệnh viện Quân - Dân y Bạc Liêu để điều trị thương tích. Tại Giấy xác nhận số 35XN/BV ngày 05/9/2018 của Bệnh viện Quân - Dân y Bạc Liêu xác nhận chị Lê Kiều X vào viện ngày 09/3/2017 và ngày ra viện 16/3/2017, với chuẩn đoán lúc vào và ra viện: Chấn động não, đa vết thương phần mềm do bị đánh, thiếu máu cơ tim, viêm dạ dày. Như vậy, có căn cứ xác định chị Thu N1 dùng tay đánh nhiều cái vào vùng đầu của chị Kiều X dẫn đến chị Kiều X bị thương tích như nêu trên. Do đó, án sơ thẩm buộc chị Thu N1 bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm là có căn cứ.

 [5] Bản án sơ thẩm chấp nhận các khoản chi điều trị hợp lý như sau: Tiền thuốc điều trị: 2.157.000 đồng; tiền mất thu nhập của chị Kiều X trong những ngày nằm viện: 1.400.000 đồng; tiền công người nuôi bệnh: 840.000 đồng; tiền ăn người bệnh và người nuôi bệnh: 700.000 đồng. Tổng cộng là: 5.097.000 đồng. Xét thấy, việc Tòa án sơ thẩm chấp nhận tiền ăn của người nuôi bệnh là chưa phù hợp với quy định của pháp luật, có phần thiệt thòi quyền lợi của chị Thu N1. Vì người nuôi bệnh đã được bồi thường tiền mất thu nhập, nên họ tự chi phí ăn uống trong số tiền bồi thường mất thu nhập. Theo xác nhận của Bệnh viện Quân – Dân y Bạc Liêu chị Kiều X nằm viện từ ngày 09/3/2017 đến ngày 16/3/2017 là 08 ngày nằm viện, án sơ thẩm chấp nhận 07 ngày nằm viện có phần thiệt thòi quyền lợi của chị Kiều X. Ngoài ra, theo hướng dẫn của Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số điều của Bộ luật Dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, theo đó chi phí hợp lý cho việc điều trị bệnh còn có cả chi phí thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu, tiền bù đắp tổn thất tinh thần của người bị thiệt hại. Tuy nhiên, chị Thu N1 không kháng cáo, chị Kiều X cũng không đặt ra và không có kháng cáo các khoản chi phí này, nên cấp phúc thẩm cần giữ nguyên.

 [6] Xét thấy, chị Kiều X phải nằm viện điều trị thương tích là do chị Thu N1 dùng tay đánh nhiều cái vào đầu chị Kiều X, nên chị Thu N1 phải bồi thường chi phí điều trị hợp lý cho chị Kiều X. Tuy nhiên, nguyên nhân xô xát xảy ra có

một phần lỗi của chị Kiều X, do chị Kiều X đến trước nhà bà Kim N1 lớn tiếng chửi bà Kim N bằng nhiều lời lẽ không chuẩn mực dẫn đến chị Thu N1 đánh chị Kiều X. Vì vậy, chị Kiều X phải tự chịu một phần chi phí điều trị là phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của chị Thu N1, có căn cứ chấp nhận ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng buộc chị Thu N1 bồi thường cho chị Kiều X 70% tổng chí phí điều trị bệnh (5.097.000 đồng x 70% = 3.567.900 đồng).

 [7] Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị Thu N1 phải chịu 300.000 đồng nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Bạc Liêu. Chị Lê Kiều X không phải chịu.

 [8] Án phí dân sự phúc thẩm chị Lê Thị Thu N1 không phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 584, 589 và 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015; mục 1 phần I Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 1, khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một phần kháng cáo của chị Lê Thị Thu N1, sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2018/DS-ST ngày 25/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Bạc Liêu.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Lê Kiều X đối với chị Lê Thị Thu N1 về việc tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.

2. Buộc chị Lê Thị Thu N1 bồi thường cho chị Lê Kiều X số tiền 3.567.900 đồng (Ba triệu năm trăm sáu mươi bảy nghìn chín trăm đồng).

3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Kiều X đối với bà Cao Kim N cùng với chị Lê Thị Thu N1 bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.

4. Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị Thu N1 phải chịu 300.000 đồng nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Bạc Liêu. Chị Lê Kiều X không phải chịu.

Án phí dân sự phúc thẩm: Chị Lê Thị Thu N1 không phải chịu. Chị Lê Thị Thu N1 đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0013242 ngày 22/10/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Bạc Liêu được hoàn lại đủ 300.000 đồng.

5. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


125
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về