Bản án 124/2019/HS-ST ngày 17/04/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 124/2019/HS-ST NGÀY 17/04/2019 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 17 tháng 4 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2019/TLST-HS ngày 10/01/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1405/2019/QĐXXST-HS ngày 26/3/2019, đối với bị cáo:

Ngô Minh H, sinh ngày 14/7/1984, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 1252 quốc lộ A, phường T, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 95 đường S, phường H, quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Ngô Văn C (1950) và bà Lê Thị B (1954); có vợ là bà Trần Thị Ngọc A (1985) và 02 con (lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2014); Nhân thân:

+ Ngày 07/9/2011 bị Tòa án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 08/02/2014, chấp hành xong hình phạt tù.

+ Ngày 12/3/2015, bị Công an huyện BC, Thành phố Hồ Chí Minh lập hồ sơ đưa đi cai nghiện ở Cơ sở xã hội TTN, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, đến tháng 02/2017 về cư trú tại địa phương.

Tiền sự: Ngày 22/02/2018, bị Công an phường AL, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh bắt về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đưa đi cai nghiện tại Cơ sở xã hội NX theo Quyết định số 433/QĐ-UBND ngày 22/02/2018 của Ủy ban nhân dân phường AL, quận BT. Ngày 12/3/2018, do xác định Ngô Minh H có nơi cư trú thường xuyên tại số 769 đường PTH, phường C, quận T nên Ủy ban nhân dân phường AL, quận BT đã ra Quyết định số 604/QĐ-UBND hủy quyết định đưa người đi cai nghiện ma túy vào Cơ sở xã hội NX, giao Ngô Minh H cho địa phương nơi cư trú để quản lý theo quy định.

Tiền án: không.

Bị bắt tạm giam từ ngày 21/8/2018 (có mặt).

- Người bào chữa: Bà Nguyễn Thị B, là Luật sư của Văn phòng Luật sư QL thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Lê Thị Kim T, sinh năm: 1981.

Địa chỉ: 109 đường B, phường AL, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

2. Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên H.

Địa chỉ: 20 đường N, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 18 giờ 00 phút ngày 21/8/2018, tại trước nhà số 86 đường Đ, phường S, quận PT, Thành phố Hồ Chí Minh, Công an quận PT phát hiện, bắt quả tang Ngô Minh H có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy để bán; thu tại móc ba ga xe máy Ngô Minh H đang điều khiển 01 túi nylon, bên trong có 500 viên nén hình tròn, màu xanh, được giấu trong 01 quần jean màu đen. Theo Kết luận giám định số 1429/KLGĐ-H ngày 29/8/2018 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 157,7321 gam, loại Codeine.

Ngô Minh H khai nhận: Vào tháng 7/2018, Ngô Minh H quen biết một đối tượng tên Q (không rõ lai lịch). Sau đó, Q thuê Ngô Minh H phụ giúp Q bán ma túy và được Ngô Minh H đồng ý. Khi có người mua ma túy, Q sẽ điện thoại cho Ngô Minh H để Ngô Minh H đi nhận ma túy rồi giao cho người mua, nhận tiền bán ma túy và đem về cho Q. Ngô Minh H đã 02 lần đi nhận và bán ma túy, cụ thể:

- Lần thứ nhất: Ngày 06/8/2018, Q kêu Ngô Minh H đi đến khu vực ngã tư AS, quận G nhận 250 viên ma túy (thuốc lắc) từ một đối tượng tên Đ (không rõ lai lịch), sau đó đem đến khu vực chợ TH, quận PT để bán cho một thanh niên tên T1 (không rõ lai lịch) và nhận về 35.000.000 đồng đưa cho Q, được Q trả công cho Ngô Minh H 5.000.000 đồng.

- Lần thứ hai: Ngày 21/8/2018, Q điện thoại kêu Ngô Minh H đi nhận 500 viên thuốc lắc từ đối tượng tên Đ tại khu vực ngã tư AS, quận G để đi bán cho đối tượng tên T1 và nhận về 70.000.000 đồng, Q sẽ trả công cho Ngô Minh H là 5.000.000 đồng. Sau khi nhận ma túy của Đ, Ngô Minh H chạy về nhà. Đến 17 giờ cùng ngày 21/8/2018, T1 điện thoại hẹn Ngô Minh H đến khu vực trường học NV, đường Đ, phường S, quận PT để giao ma túy và nhận tiền, nhưng Ngô Minh H khi mới đi đến trước số 86 đường Đ và chưa kịp bán ma túy cho T1, bị phát hiện và bắt quả tang cùng vật chứng là số ma túy nói trên.

Mặc dù Ngô Minh H khai ngày 06/8/2018 đã giúp Q đi bán ma túy (250 viên thuốc lắc) cho đối tượng tên T1, nhưng ngoài lời khai của Ngô Minh H không còn chứng cứ khác chứng minh Ngô Minh H đã bán số ma túy này. Do đó, không có đủ cơ sở buộc Ngô Minh H phải chịu trách nhiệm hình sự đối với số ma túy Ngô Minh H đã bán trước đó.

Đối với các đối tượng mua bán ma túy tên Q, T1 và Đ, do Ngô Minh H khai không rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở để xác minh, truy bắt để xử lý.

Vật chứng vụ án:

- 01 gói niêm phong bên ngoài ghi vụ 1429/18 TPhú có chữ ký của giám định viên Thượng úy Phan Tấn Quốc và cán bộ điều tra Trần Xuân Trọng, bên ngoài là mẫu vật còn lại sau giám định.

- 01 quần jean màu đen ống dài, hiệu Gloria Vanderbill.

- 01 túi nylon màu trắng in hoa văn hình cá sấu.

- 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng hồng, có model CPH1723, kèm simcard, Ngô Minh H khai dùng để liên lạc và để mua bán ma túy.

- 10.000.000 đồng, Ngô Minh H khai là tiền cá nhân của Ngô Minh H không liên quan đến việc mua bán ma túy, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã gửi vào Kho bạc Nhà nước Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- 01 xe hai bánh gắn máy, nhãn hiệu: Yamaha, loại xe: 02 bánh, số loại: Exciter, biển số: 50N1-560.00, số khung: RLCUG0610JY642437, số máy: G3D4E668762. Kết quả xác minh, xe do bà Lê Thị Kim T (sinh năm 1981, hộ khẩu thường trú: 109 đường B, phường AL, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Bà Lê Thị Kim T quen biết với Ngô Minh H. Ngày 21/8/2018, Ngô Minh H mượn xe của bà Lê Thị Kim T đi công việc, bà Lê Thị Kim T đồng ý, không biết Ngô Minh H sử dụng xe vào việc mua bán ma túy, phù hợp với lời khai của Ngô Minh H. Cơ quan Cảnh sát Điều tra tạm giữ xe chờ xử lý theo quy định.

Bản cáo trạng số 11/CTr-VKS-P1 ngày 04/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Ngô Minh H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm e khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bị cáo Ngô Minh H thừa nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng điểm e khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Ngô Minh H từ 16 đến 17 năm tù và nộp phạt 10.000.000 (mười triệu) đồng. Về xử lý vật chứng của vụ án đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.

Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Đồng ý với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố đối với bị cáo Ngô Minh H. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo là lao động chính trong gia đình và bị cáo có cha là phó bí thư chi bộ khu phố để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã hối hận về hành vi của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều và tại phiên tòa, bị cáo Ngô Minh H không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định: Vì mục đích thu lợi bất chính, Ngô Minh H đã đồng ý giúp đối tượng tên Q (không rõ lai lịch) nhận ma túy từ một đối tượng tên Đ (không rõ lai lịch), sau đó giao cho đối tượng tên T1 (không rõ lai lịch) và nhận tiền bán ma túy về đưa lại cho Q để hưởng tiền công. Ngày 21/8/2018, Ngô Minh H đang trên đường đi bán ma túy cho đối tượng tên T1 thì nhưng chưa kịp bán thì bị bắt quả tang cùng vật chứng là 157,7321 gam ma túy ở thể rắn, loại Codeine.

Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thuộc trường hợp “Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam” quy định tại điểm e khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, Luật sư bào chữa cho bị cáo Ngô Minh H đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do bị cáo thành khẩn khai báo. Còn về tình tiết mà luật sư nêu là bị cáo là lao động chính trong gia đình và bị cáo có cha là phó bí thư chi bộ khu phố để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, là không có cơ sở để xem xét.

Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác, gây tác hại xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, nên cần có mức án nghiêm khắc mới có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do đó Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[4] Ngoài ra, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, áp dụng khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, buộc bị cáo phải nộp phạt số tiền 10.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.

[5] Về vật chứng của vụ án:

- Đối với 01 gói niêm phong bên ngoài ghi vụ 1429/18 TPhú có chữ ký của giám định viên Thượng úy Phan Tấn Quốc và cán bộ điều tra Trần Xuân Trọng, bên ngoài là mẫu vật còn lại sau giám định; 01 quần jean màu đen ống dài, hiệu Gloria Vanderbill; 01 túi nylon màu trắng in hoa văn hình cá sấu; xét thấy không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng hồng, có model CPH1723, kèm simcard, bị cáo Ngô Minh H khai nhận đây là điện thoại bị cáo dùng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử tịch thu, sung quỹ Nhà nước.

- Đối với số tiền 10.000.000 đồng, bị cáo Ngô Minh H khai đây là tiền cá nhân của bị cáo không liên quan đến việc mua bán ma túy nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Đối với 01 xe hai bánh gắn máy, nhãn hiệu: Yamaha, loại xe: 02 bánh, số loại: Exciter, biển số: 50N1-560.00, số khung: RLCUG0610JY642437, số máy: G3D4E668762, qua xác minh do bà Lê Thị Kim T đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Tuy nhiên, theo Hợp đồng tín dụng tiêu dùng trả góp số 3801393675 lập ngày 25/3/2018 giữa Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên H với bà Lê Thị Kim T thì bà Lê Thị Kim T vay trả góp của Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên H để mua chiếc xe nêu trên. Ngày 20/12/2018, Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên H có văn bản số 534/2018/HC-LC với nội dung không có ý kiến và yêu cầu gì đối với việc xử lý chiếc xe mà bà Lê Thị Kim T đã vay tiền để mua trong vụ án này. Đồng thời, bị cáo Ngô Minh H mượn xe của bà Lê Thị Kim T đi công việc, bà Lê Thị Kim T đồng ý, nhưng không biết Ngô Minh H sử dụng xe vào việc đi bán ma túy và bị bắt giữ như trên. Việc Ngô Minh H sử dụng chiếc xe trên và phạm tội bà Lê Thị Kim T không biết, nên Hội đồng xét xử giao trả chiếc xe trên lại cho bà Lê Thị Kim T.

[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Ngô Minh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm e khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Ngô Minh H 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/8/2018.

Buộc bị cáo Ngô Minh H nộp phạt số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng để sung quỹ Nhà nước.

- Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu, tiêu hủy 01 gói niêm phong bên ngoài ghi vụ 1429/18 TPhú có chữ ký của giám định viên Thượng úy Phan Tấn Quốc và cán bộ điều tra Trần Xuân Trọng, bên ngoài là mẫu vật còn lại sau giám định; 01 quần jean màu đen ống dài, hiệu Gloria Vanderbill; 01 túi nylon màu trắng in hoa văn hình cá sấu.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng hồng, có model CPH1723, kèm simcard.

Trả lại cho bị cáo Ngô Minh H số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Giao trả cho bà Lê Thị Kim T 01 chiếc xe hai bánh gắn máy, nhãn hiệu: Yamaha, loại xe: 02 bánh, số loại: Exciter, biển số: 50N1-560.00, số khung: RLCUG0610JY642437, số máy: G3D4E668762.

(Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số 145/19 ngày 15/01/2019 của Cục Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh và Giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949.09059775.00000 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh tại Kho bạc Nhà nước Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 05/9/2018 do cán bộ điều tra Trần Xuân Trọng - Phòng PC04 nộp.) Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Ngô Minh H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày nhận được bản án và bản án được niêm yết hợp lệ.


37
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 124/2019/HS-ST ngày 17/04/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy

      Số hiệu:124/2019/HS-ST
      Cấp xét xử:Sơ thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
      Lĩnh vực:Hình sự
      Ngày ban hành:17/04/2019
      Là nguồn của án lệ
        Bản án/Quyết định sơ thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về