Bản án 1260/2017/HNGĐ-ST ngày 20/09/2017 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 1260/2017/HNGĐ-ST NGÀY 20/09/2017 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 20/9/2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 108/2016/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 03 năm 2016 về tranh chấp ly hôn.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 711/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày22 tháng 8 năm 2017, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà T, sinh năm: 1981

Địa chỉ: Số A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông K, sinh năm: 1979

Quốc tịch: Canada

Địa chỉ: Canada.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và trình bày của bà T:

Ngày 10 tháng 3 năm 2010, bà và Ông K đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, vào sổ đăng ký kết hôn số 893, quyển số 03 ngày 11 tháng 3 năm 2010.

Sau khi kết hôn, bà và ông chung sống với nhau được 05 tháng tại ViệtNam. Trong khoảng thời gian sống chung thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm lối sống hàng ngày, hai bên không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống vợ chồng.

Sau đó, Ông K về Canada sinh sống và làm việc, bà vẫn ở lại Viện Nam. Bà và Ông K nỗ lực để giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng nên Ông K có trở về Việt Nam 02 lần vào năm 2011 và năm 2013 để hai bên cùng ngồi lại nói chuyện nhưng vẫn không giải quyết được mâu thuẫn. Đến tháng 05/2015 thì Ông K không còn liên lạc với bà.

Bà nhận thấy tình cảm không còn nên đã tự chấm dứt tình cảm vợ chồng với ông K từ năm 2015 đến hiện nay. Vì thời gian xa cách lâu dài, mỗi người lại mỗi nơi, mâu thuẫn giữa hai bên không giải quyết được nên bà đề nghị ly hôn với ông K để ổn định cuộc sống riêng của mình.

Con chung: Không có.

Tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa án không thể tiến hành hòa giải đoàn tụ được vì ông K đang cư trú tại Canada.

Tại phiên tòa sơ thẩm,

Bà T có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với các đương sự vắng mặt, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của bà T, cho bà T được ly hôn với ông K.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bà T đang cư trú tại Việt Nam có đơn xin ly hôn với ông K hiện đang sinh sống tại Canada. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 28, Điều 37, Điều 40 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.Tòa án đã triệu tập hợp lệ bà T tham gia phiên tòa vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 20/9/2017 nhưng bà T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt ngày06/9/2017.

Đối với ông K, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành thủ tục ủy thác tư pháp hợp lệ Thông báo về việc thụ lý và xét xử vụ án dân sự sơ thẩm cho ông K tại địa chỉ Canada theo Công văn số 868/TTTPDS-TA ngày 17 tháng 8 năm 2016 gửi Bộ Tư pháp. Đến ngày 13 tháng 10 năm 2016 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận được Công văn của Bộ Tư Pháp số 4400/BTP-PLQT ngày 29 tháng 9 năm 2016 về việc đã thực hiện ủy thác tư pháp đối với ông K. Tuy nhiên, đến ngày đưa vụ án ra xétxử lần hai ngày 27 tháng 6 năm 2017 thì ông ông K không đến Tòa án cũng không có văn bản trả lời, không có đơn xin xét xử vắng mặt được cơ quan đại diện ngoại giao của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Canada xác nhận chữ ký hoặc hợp pháp hóa lãnh sự.

Ngày 27 tháng 6 năm 2017, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có gửi Công văn số 557/UTTPDS-TA30 gửi Bộ Tư pháp về việc đề nghị Bộ Tư pháp thông báo kết quả ủy thác tư pháp đối với ông K, quốc tịch Canada tại địa chỉ Canada. Ngày 15/8/2017, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận được công văn số 2462/BTP-PLQT ngày 31/7/2017 của Bộ tư pháp gửi đến Bộ ngoại giao (Cục lãnh sự) về việc thực hiện ủy thác đối với ông K tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa nhận được kết quả trả lời.

Căn cứ Khoản 2 Điều 227, Điều 228, Khoản 4 và Điểm c Khoản 5 Điều477 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Xét yêu cầu ly hôn của bà T có đủ căn cứ để xác định:

- Quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà T và ông K ngày 10 tháng 3 năm 2010, vào sổ đăng ký kết hôn số 893 quyển số 03 ngày 11 tháng 3 năm 2010 thì quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông K là hôn nhân hợp pháp.

Theo như bà T trình bày, do không có điều kiện gần gũi, chăm sóc nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng bị phai nhạt, hạnh phúc vợ chồng không có. Về phía ông K, Tòa án đã tiến hành ủy thác tư pháp theo đúng thủ tục luật định nhưng ông K không hồi báo. Điều này cũng chứng tỏ ông K không quan tâm đến cuộc hôn nhân này nữa. Xét thấy mục đích hôn nhân chỉ có thể đạt được khi vợ chồng thương yêu, quan tâm, chăm sóc nhau, cùng chia sẻ những buồn vui trong cuộc sống. Do đó bà T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với ông K là có căn cứ để chấp nhận để tạo điều kiện cho các bên ổn định cuộc sống riêng sau này

Con chung: Không có.

Tài sản chung, nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

-Về án phí dân sự sơ thẩm bà T phải chịu theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 28, Điều 37, Điều 40, Điều 147, Điều 273, Điều 277, Điều 278, Điều 477 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

1. Chấp nhận yêu cầu của bà T.

Quan hệ hôn nhân: Bà T được ly hôn với ông K. Con chung: Không có

Tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà T chịu 200.000 đồng được cấn trừ vào Biên lai thu tạm ứng án phí số 03205 ngày 23/3/2016 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Án xử công khai sơ thẩm, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bà T nhận tống đạt hợp lệ bản án. Đối với ông K thời hạn kháng cáo bản án là 12 tháng kể từ ngày tuyên án.


42
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 1260/2017/HNGĐ-ST ngày 20/09/2017 về tranh chấp ly hôn

      Số hiệu:1260/2017/HNGĐ-ST
      Cấp xét xử:Sơ thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
      Lĩnh vực:Dân sự
      Ngày ban hành:20/09/2017
      Là nguồn của án lệ
        Bản án/Quyết định sơ thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về