Bản án 128/2018/HNGĐ-ST ngày 04/07/2018 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 128/2018/HNGĐ-ST NGÀY 04/07/2018 VỀ XIN LY HÔN

Trong ngày 04 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố CàMau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số549/2018/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2018, về việc “xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 423/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2018, giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Ngọc N, sinh năm 1987; Địa chỉ: Khóm M, phường T, thành phố C, tỉnh M (có mặt).

2. Bị đơn: Anh Hồ Quốc Q, sinh năm 1982; Địa chỉ: Khóm S, phường T, thành phốC, tỉnh M (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, biên bản hòa giải ngày 18 tháng 6 năm 2018 và tại phiên tòa, chị Trần Ngọc N trình bày: Chị và anh Q chung sống vào năm 2007, không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã nhau, nhận thấy cả hai không thể chung sống với nhau được nữa, nay chị yêu cầu được ly hôn với anh Q.

Về con chung: Chị N xác định có một người con tên Hồ Trần Quốc B, sinh ngày 09/5/2008, hiện nay cháu B đang sống với vợ chồng. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi cháu B không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị N xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị N xác định không nợ ai và cũng không ai nợ lại.

Tại biên bản hòa giải ngày 18 tháng 6 năm 2018 và tại phiên tòa, anh Hồ Quốc Q trình bày: Về thời gian chung sống, không đăng ký kết hôn và nguyên nhân mâu thuẫn đúng như chị N trình bày. Nay chị N xin ly hôn anh đồng ý.

Về con chung: Anh Q xác định có một người con chung tên Hồ Trần Quốc B đúng như chị N trình bày. Khi ly hôn anh thống nhấ giao cháu B cho chị N tiếp tục nuôi dạy, anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Anh Q xác định không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Anh Q xác định không nợ ai và cũng không ai nợ lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 [1] Về quan hệ tranh chấp được xác định là tranh chấp về hôn nhân gia đình nên thuộc thẩm Q giải quyết của Tòa án.

 [2] Về hôn nhân: Chị Trần Ngọc N và anh Hồ Quốc Q chung sống với nhau vào năm 2007 Quá trình chung sống đến nay, tuy đủ điều kiện kết hôn nhưng anh, chị cũng không đăng ký kết hôn theo luật định nên căn cứ vào khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình thì việc kết hôn trên không được đăng ký theo quy định là không có giá trị pháp lý.Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, chị N xác định do vợ chồng có mâu thuẫn với nhau, bất đồng về mọi mặt trong cuộc sống, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn hiện chị không còn tình cảm đối với anh Q nên không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa. Mặc khác anh Q cũng xác định vợ chồng có nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn nên đồng ý chấm dứt mối quan hệ hôn nhân theo yêu cầu của chị N. Xét mâu thuẫn giữa chị N và anh Q là thực tế có xảy ra. Đồng thời, do hôn nhân có vi phạm về mặt hình thức nên quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh Q không được pháp luật công nhận là vợ chồng

 [3] Về con chung: Chị N và anh Q xác định có một người con chung tên Hồ Trần Quốc B, sinh ngày 09/5/2008, khi ly hôn chị N và anh Q đã thỏa thuận, thống nhất giao cháu B cho chị N nuôi và không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, việc thỏa thuận người trực tiếp nuôi con và trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con giữa chị N và anh Q là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

 [4] Về tài sản chung: Chị N và anh Q xác định không có nên không đặt ra xem xét.

[5] Về nợ chung: Chị N và anh Q xác định không có nên không đặt ra xem xét.

 [6] Chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28, 35, 39,147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 9, 14, 53, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố không công nhận vợ chồng giữa chị Trần Ngọc N và anh Hồ Quốc Q.

2. Về con chung là Hồ Trần Quốc B, sinh ngày 09/5/2008 tiếp tục giao cho chị N chăm sóc, nuôi dưỡng và không đặt ra trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con. Anh Q có Q đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung.

3. Về tài sản chung và nợ chung, chị Trần Ngọc N và anh Hồ Quốc Q khai không có nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

4. Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình: Chị Trần Ngọc N phải nộp số tiền 300.000đ. Vào ngày 13/6/2018, Chị N đã nộp số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ theo biên lai số 0000912 được đối trừ, chuyển thu sung quỹ Nhà nước. Chị N, anh Q được Q kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


45
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về