Bản án 128/2018/HNGĐ-ST ngày 24/08/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH - TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 128/2018/HNGĐ-ST NGÀY 24/08/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 24 tháng 8 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 254/2018/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2018 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 133/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Phan Văn Đ, sinh năm 1991.

Địa chỉ: 104, đường P, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai.

- Bị đơn: Chị Tống Hà T, sinh năm 1996.

Địa chỉ: Tổ 6A, khu 12, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

(Anh Đ, chị T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ngày 16/4/2018 và quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn anh Phan Văn Đ trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Tống Hà T xây dựng gia đình vào năm 2014, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Lập, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 3/2016 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nên hay cãi vã nhau. Từ tháng 4/2017 đến nayvợ chồng đã sống ly thân. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị T.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên Phan Hà T, sinh ngày13/4/2013. Ly hôn anh Đ giao con cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, mỗi tháng anh cấp dưỡng cho cháu T 1.500.000 đồng

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

* Tại bản tự khai ngày 06/7/2018 bị đơn chị Tống Hà T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng chị tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Lập, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình ngày 07/11/2014. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 3/2016 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quanđiểm sống nên hay cãi vã nhau. Đến tháng 4/2017 vợ chồng sống ly thân đến nay. Nay xét thấy tình cảm không còn nên anh Đ xin ly hôn chị đồng ý.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên Phan Hà T, sinh ngày 13/4/2013. Ly hôn vợ chồng thỏa thuận giao cháu T cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, mỗi tháng anh Đ cấp dưỡng 1.500.000 đồng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Các tài liệu, chứng cứ trong vụ án: Đơn khởi kiện tranh chấp ly hôn; Chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu, giấy đăng ký kết hôn của anh Đ, chị T; Giấy khai sinh của cháu Phan Hà T; Bản tự khai của các đương sự; thủ tục phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Biên bản xác minh tại địa phương; đơn đề nghị về việc xin vắng mặt của các đương sự.

Các tình tiết các bên thống nhất: Anh Đại yêu cầu được ly hôn chị T, chị T có ý kiến đồng ý ly hôn. Về con chung: Anh Đ giao cháu Phan Hà T cho chị T nuôi dưỡng và anh cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng, chị T đồng ý. Về tài sản chung và nợ chung: Các bên khai không có.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành: Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn như cung cấp tài liệu, chứng cứ được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Xét quan hệ hôn nhân giữa anh Đại và chị Thu là quan hệ hôn nhân hợp pháp, vợ chồng có mâu thuẫn trầm trọng, đã sống ly thân không hàn gắn đoàn tụ được nên yêu cầu ly hôn là có căn cứ pháp luật. Có 01 con chung tên Phan Hà T, sinh ngày 13/4/2013.

Căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83, 84, 118 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho anh Đ ly hôn chị T. Về con chung: chấp nhận yêu cầu về việc nuôi dưỡng con chung anh Đ, giao cháu Phan Hà T cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, anh Đ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng:

Tòa án đã triệu tập hợp lệ về việc tham gia phiên tòa đối với nguyên đơn anh Phan Văn Đ và bị đơn chị Tống Hà T, anh Đại, chị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh Đ, chị T.

[2] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Đ và chị T tự nguyện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Tân Lập, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình cấp giấy chứng nhận kết hôn số 89 ngày 07/11/2014 nên được xác định là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn từ tháng 3/2016, vợ chồng đã không còn sống chung nhà từ tháng 4/2017 đến nay, vợ chồng sống ly thân không thể hàn gắn đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt, chị T cũng có ý kiến đồng ý ly hôn; Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Đ, xử cho anh Đ được ly hôn chị T.

Về con chung: Có 01 con chung tên Phan Hà T, sinh ngày 13/4/2013. Anh Đ có yêu cầu giao con cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, anh cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng, chị T có ý kiến đồng ý. Do đó giao cháu Phan Hà T cho chị T nuôi dưỡng, anh Đ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng. quyết.

Về tài sản chung: Các đương sự đều khai không có nên không xem xét.

Về nợ chung: Các đương sự khai không có nên không xem xét giải

[3] Về án phí: Anh Đ phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28; Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000; các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 118, Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Án phí, Lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phan Văn Đ về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với chị Tống Hà T, xử cho anh Phan Văn Đ được ly hôn chị Tống Hà T.

Về con chung: Xử giao cháu Phan Hà T, sinh ngày 13/4/2013 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh Đ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng.

Anh Đ được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Khi cần thiết các đương sự có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

Nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt theo quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Kể từ ngày chị T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Đ không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nêu trên thì hàng tháng phải trả thêm số tiền lãi đối với số tiền chậm cấp dưỡng theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm cấp dưỡng tại thời điểm thanh toán.

Về án phí: Anh Phan Văn Đ phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 002131 ngày 16/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành, anh Đ còn phải nộp thêm 300.000 đồng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.

Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.


13
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 128/2018/HNGĐ-ST ngày 24/08/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:128/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Long Thành - Đồng Nai
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:24/08/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về