Bản án 128/2019/DS-ST ngày 27/08/2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 128/2019/DS-ST NGÀY 27/08/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 27 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 280/2019/TLST-DS ngày 07 tháng 6 năm 2019 về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 188/2019/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 8 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 108/2019/QĐST-DS ngày 15 tháng 8 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty Tài chính TNHH Một thành viên V (VPB FC).

Trụ sở: Tầng 2, Tòa nhà R, số 9, đường B, phường M, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lô Bằng G – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị Mỹ H – Trưởng nhóm Tố tụng - Phòng thu hồi nợ pháp lý – Trung tâm Thu hồi nợ. (Văn bản ủy quyền số 80/UQ- VH.18 ngày 13/6/2018)

Ủy quyền lại cho: Chị Nguyễn Kim T, sinh năm: 1996. (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Số 43, đường số 7, khu dân cư Nam Long, phường An Lạc, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh. (Văn bản ủy quyền số 678/UQTA-VH.18 ngày 25/4/2019).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1991. (vắng mặt)

Địa chỉ: Số 723, ấp Bình Tiền 1, xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 25 tháng 4 năm 2019, và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Kim T đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Vào ngày 14/8/2016, anh Nguyễn Hoàng L có ký Hợp đồng tín dụng số 20160812-500000-4416 với Công ty Tài chính TNHH Một thành viên V để vay số tiền là 14.770.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 4.59%/tháng, mục đích vay là tiêu dùng cá nhân. Phương thức thanh toán trả dần.

Theo đó, anh L có trách nhiệm thanh toán cho công ty số tiền 17.603.270 đồng (gồm cả gốc và lãi) trong thời hạn 7 tháng; mỗi tháng trả 2.514.753 đồng, tháng cuối cùng trả 2.514.752 đồng. Thời gian thanh toán vào ngày 16 dương lịch hàng tháng, bắt đầu thanh toán từ ngày 16/9/2016 và công ty đã giải ngân đầy đủ số tiền cho anh L.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, anh L không thanh toán cho công ty bất cứ khoản tiền nào. Đến nay, dù đã hết thời hạn thanh toán theo hợp đồng, anh L cũng không thanh toán số tiền gốc và lãi dù công ty đã nhiều lần nhắc nhở.

Nay, chị T đại diện Công ty Tài chính TNHH Một thành viên V yêu cầu anh Nguyễn Hoàng L trả số tiền là 17.603.270đồng (trong đó tiền gốc là 14.770.000đồng và nợ lãi là: 2.833.270đồng). Công ty không yêu cầu anh L trả lãi suất quá hạn từ ngày hết thời hạn thanh toán theo hợp đồng cho đến ngày xét xử, cũng không yêu cầu anh L phải trả lãi suất chậm thi hành trong giai đoạn thi hành án.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, các văn bản tố tụng cần thiết, đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các thủ tục theo pháp luật quy định nhưng anh Nguyễn Hoàng L vẫn vắng mặt, cũng không có văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ các kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Công ty Tài chính TNHH Một thành viên V khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Hoàng L trả số tiền vay còn nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Quan hệ tranh chấp là tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Hoàng L có hộ khẩu thường trú tại ấp Bình Tiền 1, xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chị Nguyễn Kim T có đơn xin vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Hoàng L đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về yêu cầu khởi kiện:

Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ và lời trình bày của chị Nguyễn Kim T trong quá trình giải quyết vụ án, thấy rằng giữa Công ty Tài chính TNHH Một thành viên V với anh Nguyễn Hoàng L có ký kết Hợp đồng tín dụng số 20160812-500000-4416 để cho anh L vay số tiền 14.770.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 4.59%/tháng, mục đích vay là tiêu dùng cá nhân. Phương thức thanh toán trả dần; theo đó, anh L có trách nhiệm thanh toán cho công ty số tiền 17.603.270 đồng (gồm cả gốc và lãi) trong thời hạn 7 tháng; mỗi tháng trả 2.514.753 đồng, tháng cuối cùng trả 2.514.752 đồng. Thời gian thanh toán vào ngày 16 dương lịch hàng tháng, bắt đầu thanh toán từ ngày 16/9/2016.

Đến nay thời hạn thanh toán theo hợp đồng tín dụng đã hết, anh L vẫn chưa thanh toán cho công ty số tiền nợ là 17.603.270 đồng (trong đó tiền gốc là 14.770.000 đồng và nợ lãi là: 2.833.270 đồng), như vậy anh L đã vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng. Trong quá trình giải quyết vụ án, dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cần thiết cho anh L nhưng anh L vẫn vắng mặt và không có ý kiến phản hồi về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên không thể xem xét ý kiến của anh L.

Từ những phân tích trên, xét yêu cầu của Công ty Tài chính TNHH Một thành viên V yêu cầu anh L trả số tiền 17.603.270 đồng (trong đó tiền gốc là 14.770.000 đồng và nợ lãi là: 2.833.270 đồng) là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3]. Về lãi suất: Đối với lãi suất quá hạn phát sinh từ sau khi hết thời hạn thanh toán cho đến ngày xét xử vụ án và lãi suất phát sinh do chậm thi hành án, chị T đại diện cho Công ty Tài chính TNHH Một thành viên V có lời trình bày không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4]. Về án phí: Anh Nguyễn Hoàng L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 184, 186, 273, Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 471, 474 Bộ luật Dân sự 2005;

Căn cứ khoản 2 Điều 91, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính TNHH Một thành viên V đối với anh Nguyễn Hoàng L về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”.

Buộc anh Nguyễn Hoàng L có trách nhiệm trả cho Công ty Tài chính TNHH Một thành viên V số tiền 17.603.270đồng (trong đó tiền gốc là 14.770.000 đồng và tiền lãi là: 2.833.270đồng).

2. Về án phí: Anh Nguyễn Hoàng L phải chịu 880.163 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung Ngân sách Nhà nước. Hoàn lại cho Công ty Tài chính TNHH Một thành viên V số tiền 440.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004832 ngày 06/6/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.

Án xử sơ thẩm và tuyên án công khai, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


19
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 128/2019/DS-ST ngày 27/08/2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:128/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Hòa - Long An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:27/08/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về