Bản án 129/2018/HS-ST ngày 28/08/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 129/2018/HS-ST NGÀY 28/08/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 28 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sư thụ lý số: 124/2018/TLST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2018/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:

Đỗ Mạnh H, sinh ngày 05/6/1975 tại Thái Bình; Nơi cư trú: Khu tập thể sợi đay T, Tổ 21, phường Tg, thành phố T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Trọng Hh (đã chết) và bà Bùi Thị M (Ông H được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, bà M được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Ba); tiền sự: không; tiền án: Bản án số 176/2012/HSST ngày 30/10/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/3/2018; nhân thân: Bản án số 50/HSST ngày 09/4/1997 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”; bản án số 129/PTHS ngày 09/9/2004, Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Dâm ô đối với trẻ em”; Quyết định số 300/QĐ-UBND ngày 17/3/2008 của Ủy ban nhân dân thành phố Thái Bình về việc áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm chữa bệnh, giáo dục, lao động xã hội để cai nghiện, thời hạn 12 tháng; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/6/2018 đến ngày 04/6/2018 chuyển tạm giam; có mặt.

- Người chứng kiến:

1. Anh Nguyễn Đăng S, sinh năm 1961;

Nơi cư trú: số nhà 05, đường P, tổ 34, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1964;

Nơi cư trú: số nhà 01, tổ 39, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 01/6/2018, Đỗ Mạnh H đi bộ đến khu vực đường P, thuộc tổ 37, phường K, thành phố T để mua ma túy về sử dụng. Bị cáo H đã gặp và mua của một người nam giới khoảng 40 tuổi không biết tên và địa chỉ 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng, sau đó đi tìm chỗ để sử dụng. Khi đi đến khu vực cầu gốc Mít thuộc tổ 01, phường Quang Trung, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình thì bị Tổ công tác của Phòng cảnh sát cơ động Công an tỉnh Thái Bình yêu cầu kiểm tra. Trước sự chứng kiến của hai người làm chứng là anh Nguyễn Đăng S và anh Nguyễn Hữu T, bị cáo H đã tự giác giao nộp 01 gói ma túy, bên ngoài được gói bằng nilon màu đen, kiểm tra bên trong là lớp giấy bạc màu trắng, trong cùng có chứa chất bột màu trắng dạng cục. H khai nhận là gói Heroine vừa mua để sử dụng. Cơ quan Công an khám xét người còn thu giữ, quản lý của bị cáo H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ITEL màu đen, 01 ví giả da màu đen, 01 thẻ căn cước công dân mang tên Đỗ Mạnh H và số tiền 800.000 đồng.

Tại kết luận giám định số 198/KLGĐ-PC54 ngày 01/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Mẫu gửi giám định thu của Đỗ Mạnh H là ma túy, loại Heroine có khối lượng 0,1534 gam

Cáo trạng số 133/CT-VKSTP ngày 01 tháng 8 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thanh phố Thái Bình truy tố bị cáo Đỗ Mạnh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Mạnh H khai: Do bị nghiện ma túy nên khoảng 14 giờ 00 phút ngày 01/6/2018, H từ nhà đi bộ đến khu vực đường Phan Bá Vành để mua ma túy về sử dụng. Bị cáo đã gặp và mua của một người nam giới khoảng 40 tuổi, không quen biết 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng, sau khi mua xong đang đi tìm chỗ để sử dụng thì bị bắt quả tang.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

* Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Mạnh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Về hình phạt: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 18 đến 24 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/6/2018. Do bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định; trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ITEL màu đen, số tiền 800.000 đồng và 01 chiếc ví giả da màu đen nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án, trả lại bị cáo 01 thẻ căn cước công dân.

* Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình đã truy tố và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 01/6/2018, Đỗ Mạnh H có hành vi tàng trữ trong người 01 gói ma túy, nguồn gốc gói ma túy là bị cáo mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực đường Phan Bá Vành với giá 200.000 đồng, mục đích để sử dụng cho bản thân. Loại ma túy bị cáo tàng trữ là Heroine với khối lượng là 0,1534 gam. Tại phiên tòa cũng như tại Cơ quan điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người chứng kiến, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản quản lý, niêm phong vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nhận thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội, đi ngược lại với cuộc đấu tranh bài trừ tệ nạn ma túy của Nhà nước. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng vẫn cố ý phạm tội. Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định về tội tàng trữ trái phép chất ma túy: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:...c, Heroine....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”. Như vậy, hành vi của bị cáo Đỗ Mạnh Hà đủ căn cứ xác định bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đỗ Mạnh H khai báo thành khẩn nên được áp dụng một tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có bố, mẹ đều là người có công với cách mạng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên phải chịu một tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4] Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là người có nhân thân xấu, có một tiền án chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục phạm tội, do vậy cần phải xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng, không có mục đích vụ lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng của vụ án: Theo quy định tại điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, mua bán nên cần tịch thu tiêu hủy; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ITEL màu đen, 01 chiếc ví giả da màu đen và số tiền 800.000 đồng quản lý của bị cáo, quá trình điều tra xác định không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án. Trả lại bị cáo Đỗ Mạnh H 01 thẻ căn cước công dân.

[7] Quá trình điều tra và tại phiên tòa không xác định được người bán ma túy cho bị cáo Đỗ Mạnh H nên không có căn cứ để xử lý.

[8] Về án phí: Bị cáo Đỗ Mạnh H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đỗ Mạnh H có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 46; Điều 47; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

1. Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Mạnh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt bị cáo Đỗ Mạnh H 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/6/2018.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu toàn bộ số ma túy hoàn trả sau giám định chứa trong phong bì niêm phong vật chứng số 198/KLGĐ-PC54 để tiêu hủy; Trả lại bị cáo Đỗ Mạnh H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ITEL màu đen, 01 chiếc ví giả da màu đen và số tiền 800.000 đồng nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án. Trả lại bị cáo Hà 01 thẻ căn cước công dân mang tên Đỗ Mạnh H.

 (Các vật chứng trên có đặc điểm mô tả như trong Biên bản giao nhận vật chứng đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình ngày 01/8/2018).

4. Về án phí: Bị cáo Đỗ Mạnh H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đỗ Mạnh H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 28/8/2018.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật thi hành án dân sự.


24
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 129/2018/HS-ST ngày 28/08/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:129/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thái Bình - Thái Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:28/08/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về