Bản án 129/2018/HS-ST ngày 30/11/2018 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ H

BẢN ÁN 129/2018/HS-ST NGÀY 30/11/2018 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 30 tháng 11 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, thành phố H xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 98/2018/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/2018/QĐXXST- HS ngày 19 tháng 11 năm 2018 đối với các bị cáo:

1. Trương Thị P, sinh năm 1989 tại H. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn D, xã L, huyện A, thành phố H; chỗ ở hiện nay: Số 15 cầu thang 2 tập thể A6, phường Q, quận H, thành phố H; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn C (đã chết) và bà Lê Thị H; chưa có chồng, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 467/2008/HSST ngày 26 tháng 11 năm 2008 của Tòa án nhân dân quận H, thành phố H xử phạt 26 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích); bị tạm giữ từ ngày 26 tháng 01 năm 2018 đến ngày 01 tháng 02 năm 2018 chuyển tạm giam; có mặt.

2. Nguyễn Thanh T, sinh năm 1993 tại H. Nơi cư trú: Thôn 6, xã K, huyện T, thành phố H; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hồng M và bà Phạm Thị X (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị T và 01 con sinh năm 2013; tiền án:

Không; tiền sự: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 21/QĐ-TA ngày 29 tháng 12 năm 2015 của Tòa án nhân dân dân huyện T, thành phố H với thời hạn là 18 tháng, ngày 04 tháng 7 năm 2017 Nguyễn Thanh T đã chấp hành xong; bị tạm giữ từ ngày 26 tháng 01 năm 2018 đến ngày 01 tháng 02 năm 2018 chuyển tạm giam; có mặt.

3. Trần Quang Minh, sinh năm 1997 tại H. Nơi cư trú: Thôn 8, xã H, huyện T, thành phố H; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quang Bình (đã chết) và bà Nguyễn Thị Hải; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 26 tháng 01 năm 2018 đến ngày 01 tháng 02 năm 2018 chuyển tạm giam; có mặt.

4. Bùi Trung D, sinh năm 1998 tại H. Nơi cư trú: Thôn 2, xã H, huyện T, thành phố H; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Bình và bà Bùi Thị Hương; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 26 tháng 01 năm 2018 đến ngày 01 tháng 02 năm 2018 chuyển tạm giam; có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Đỗ Đức D, sinh năm  1986; địa chỉ: Thôn 2, xã M, huyện T, thành phố H; vắng mặt.

* Người làm chứng:

- Anh Đàm Trì N; vắng mặt.

- Anh Nguyễn Phú T; vắng mặt.

- Anh Cao Văn H; vắng mặt.

- Anh Đặng Ngọc T; có mặt.

- Anh Phạm Văn T; vắng mặt.

- Anh Nguyễn Văn T; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 10 phút ngày 25 tháng 01 năm 2018 Đội Cảnh sát điều tra về tội phạm ma túy Công an huyện T kết hợp với Công an thị trấn Núi Đèo, huyện T, thành phố H làm nhiệm vụ tại khu vực sân vận động Đà Nẵng, thị trấn Núi Đèo, huyện T, thành phố H đã kiểm tra phát hiện Đàm Trì N, sinh năm 1992, trú tại thôn 8, xã MTân, huyện T, thành phố H và Đỗ Đức D, sinh năm 1986, trú tại thôn 2, xã MTân, huyện T, thành phố H có biểu hiện vừa sử dụng trái phép chất ma túy xong. Thu giữ tại vị trí Đàm Trì Nghị và Đỗ Đức D ngồi có 01 bộ đồ sử dụng ma túy đá tự chế bên trong nỏ thủy tinh bán dính tạp chất màu đen (nghi là ma túy), 01 túi nilon kích thước 1x1,5cm bên trong còn bám dính tinh thể màu trắng (nghi là ma túy), 01 ống hút nhựa dài 8 cm một đầu hàn kín một đầu vát nhọn bên trong bám dính tinh thể màu trắng (nghi là ma túy) và 01 bật lửa ga đã qua sử dụng. Thu của Đỗ Đức D 01 điện thoại di động đã qua sử dụng gắn số sim 01649794674. Tổ công tác đã đưa Đàm Trì Nghị và Đỗ Đức D cùng vật chứng về trụ sở Công an thị trấn Núi Đèo lập biên bản kiểm tra, xác Mtin báo tố giác về tội phạm, Đàm Trì Nghị và Đỗ Đức D khai: Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 25 tháng 01 năm 2018 Đỗ Đức D và Đàm Trì Nghị, mỗi người góp 100.000 đồng để mua ma túy đá về sử dụng, Đỗ Đức D cầm tiền rồi gọi điện thoại cho người đàn ông tên T (số điện thoại 0967334102) hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá, T đồng ý và hẹn Đỗ Đức D đến gần nhà nghỉ Việt Anh 2 ở thị trấn Núi Đèo, huyện T, thành phố H để mua bán ma túy. Đỗ Đức D và Đàm Trì Nghị đến gần cửa nhà nghỉ Việt Anh 2 thì có 01 nam thanh niên (sau này mới biết tên là Trần Quang Minh, sinh năm 1997, trú tại thôn

8, xã H, huyện T, thành phố H) đi từ nhà nghỉ Việt Anh 2 ra, Đỗ Đức D đưa cho Trần Quang Msố tiền 200.000 đồng và Trần Quang Mbán cho Đỗ Đức D 01 túi ma túy đá. Sau đó Đàm Trì N và Đỗ Đức D mang túi ma túy đá vừa mua được đến sân vận động Đà Nẵng, thị trấn Núi Đèo, huyện T, thành phố H để sử dụng, khi vừa sử dụng xong thì bị công an phát hiện. Đỗ Đức D còn khai đã nhiều lần mua ma túy của T, Mtại nhà nghỉ Việt Anh 2 để sử dụng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành khám xét khẩn cấp phòng 403 và phòng 404 nhà nghỉ Việt Anh 2 thuộc tổ dân phố Bạch Đằng 2, thị trấn Núi Đèo, huyện T, thành phố H.

Tại phòng 403 phát hiện có Trần Quang Minh, sinh năm 1997, nơi cư trú: Thôn 8, xã H, huyện T, thành phố H; Công an đã thu giữ 01 nỏ thủy tinh bên trong bám dính tinh thể màu trắng (nghi chất ma túy) và 01 bật lửa ga.

Tại phòng 404 có Trương Thị P, sinh năm 1989; nơi cư trú: Số 15 cầu thang 2, tập thể A6, phường Quán Toan, quận Hồng Bàng, thành phố H; Nguyễn Thanh T, sinh năm 1993, nơi cư trú: Thôn 6, xã Kiền Bái, huyện T, thành phố H và Bùi Trung D, sinh năm 1998; nơi cư trú: Thôn 2, xã Hoa Động, huyện T, thành phố H. Công an đã tiến hành thu giữ:

- Tại góc trên cuối giường có 01 hộp màu đen kích thước 8cmx6cm trên mặt có chữ”Zippo” màu trắng bên trong có 01 túi nilon kích thước 10cmx6cm chứa tinh thể màu trắng.

- Trên bàn trong phòng có 01 hộp màu trắng kích thước 19cmx14cmx7cm bên trong có 01 túi nylon kích thước 10cmx6cm chứa tinh thể màu trắng và 01 ống hút màu da cam sọc trắng dài 14cm một đầu bằng, một đầu vát nhọn bên trong ống hút có bám dính tinh thể màu trắng.

- Tại cuối giường ngủ sát cửa sổ phòng có 01 hộp hình trụ đường kính 05cm, cao 08 cm màu xanh lá cây bên trong gồm: 01 túi nilon kích thước 5cmx4cm chứa tinh thể màu trắng; 04 túi nilon kích thước 3cmx2cm bên trong mỗi túi chứa 01 gói giấy bạc trong đó có 03 gói giấy bạc chứa 02 viên nén hình trụ màu hồng và 01 gói giấy bạc chứa 01 viên nén màu hồng; 01 nỏ thủy tinh bên trong còn bám dính tinh thể màu trắng.

- Tại kẽ giường ngủ có 01 túi nilon kích thước 3cmx2cm bên trong chứa một phần viên nén màu hồng,

- 55 vỏ túi nilon trong suốt có kích thước khác nhau, 01 cân điện tử, 01 kéo và 01 bật lửa.

- Số tiền 1.300.000 đồng trong hộp nhựa màu trắng kích thước 19cmx14cmx7cm trên bàn.

Kiểm tra phòng 401 nhà nghỉ Việt Anh 2 phát hiện có Đặng Ngọc Trung, sinh năm 2000; Phạm Văn Tuấn, sinh năm 1999 và Nguyễn Văn Tâm, sinh năm 2000 đều trú tại xã Hoa Động, huyện T, thành phố H, Công an không thu giữ gì.

Tại bản Kết luận giám định số 69/KLGĐ(Đ6) ngày 30 tháng 01 năm 2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố H kết luận: Tinh thể màu trắng bám dính trong đoạn ống hút nhựa, 01 túi nilon; tạp chất màu đen bám dính bên trong nỏ thủy tinh thu của Đỗ Đức D và Đàm Trì Nghị là ma túy, loại Methamphetamine, không đủ điều kiện xác định khối lượng.

Tại bản Kết luận giám định số 68/KLGĐ(Đ6) ngày 30 tháng 01 năm 2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố H kết luận:

- Tinh thể màu trắng chứa trong 01 túi nilon kích thước 6x10cm đựng trong hộp màu đen trên mặt có chữ Zippo là ma túy, có khối lượng 19,94 gam, là loại Methamphetamine.

- Tinh thể màu trắng chứa trong 01 túi nilon kích thước 6x10cm thu giữ trong 01 hộp màu trắng kích thước 19x14x7cm là ma túy, có khối lượng 2,0 gam, là loại Methamphetamine.

- Tinh thể màu trắng chứa trong 01 túi nilon kích thước 4x5cm thu giữ trong 01 hộp hình trụ màu xanh là ma túy, có khối lượng 0,65gam, là loại Ketamine.

- Viên nén chứa trong 04 túi nilon kích thước 2x3cm trong mỗi túi chứa 01 gói giấy bạc trong đó có 03 gói giấy bạc chứa 02 viên nén màu hồng và 01 gói giấy bạc chứa 01 viên nén màu hồng thu giữ trong hộp hình trụ màu xanh là ma túy, có khối lượng 0,67 gam, là loại Methamphetamine.

- Một phần viên nén màu hồng đựng trong 01 túi nilon kích thước 3x2cm là ma túy, có khối lượng 0,05 gam, là loại Methamphetamine.

- Tạp chất màu trắng bám dính trong ống hút nhựa màu cam sọc trắng dài 14cm một đầu bằng, một đầu vát nhọn, là ma túy, là loại Methamphetamine, không đủ điều kiện xác định khối lượng.

- Tạp chất màu trắng bám dính trong nỏ thủy tinh là ma túy, là loại Methamphetamine, không đủ điều kiện xác định khối lượng.

Tiến hành xét nghiệm nước tiểu của Trương Thị P, Nguyễn Thanh T, Trần Quang Minh, Bùi Trung D, Đàm Trì Nghị, Đỗ Đức D, Đặng Ngọc Trung, Phạm Văn Tuấn và Nguyễn Văn Tâm kết quả đều dương tích với chất ma túy (Methamphetamine).

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, Đặng Ngọc Trung, Phạm Văn Tuấn và Nguyễn Văn Tâm khai: Trong thành phần nước tiểu của Đặng Ngọc Trung, Nguyễn Văn Tâm và Phạm Văn Tuấn dương tính với ma túy đá là do ngày 23 tháng 01 năm 2018 và ngày 25 tháng 01 năm 2018 đã mua ma túy của Nguyễn Thanh T tại nhà nghỉ Việt Anh 2 để sử dụng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, Trương Thị P, Nguyễn Thanh T, Trần Quang Mvà Bùi Trung D khai:

Ngày 03 tháng 11 năm 2017 Trương Thị P thuê phòng 404 nhà nghỉ Việt Anh 2 tại thị trấn Núi Đèo, huyện T, thành phố H để ở. Khoảng đầu tháng 12 năm 2017 Nguyễn Thanh T là bạn trai của Trương Thị P đến ở cùng tại phòng 404 nhà nghỉ Việt Anh 2. Khoảng tháng 01 năm 2018 Trương Thị P nảy sinh ý định bán chất ma túy cho người khác, Trương Thị P và Nguyễn ThanhT rủ Trần Quang Mvà Bùi Trung D là bạn của Nguyễn Thanh T cùng tham gia bán chất ma túy. Trần Quang Mvà Bùi Trung D đồng ý thuê phòng 403 nhà nghỉ Việt Anh 2 để ở cạnh Trương Thị P và Nguyễn Thanh T để tiện cho việc bán ma túy. Nguồn gốc chất ma túy để bán Trương Thị Phương khai mua của một người Trung Quốc tại Trung Quốc với giá 3.000.000 đồng vào khoảng tháng 10 năm 2017 và được cho thêm 10 viên nén hình trụ màu hồng. Trương Thị P là người đóng gói ma túy thành từng túi nhỏ để bán với giá 200.000 đồng/túi. Người mua ma túy sẽ liên lạc qua số điện thoại 0967.334.102 của Nguyễn Thanh T, Nguyễn Thanh T hoặc Trương Thị P sẽ nghe điện thoại và giao dịch với người mua ma túy, hẹn địa điểm mua bán ma túy tại gần nhà nghỉ Việt Anh 2. Sau đó Nguyễn Thanh T hoặc Trương Thị P sẽ gọi Trần Quang Mhoặc Bùi Trung D sang phòng 404 để đưa ma túy cho Trần Quang Mhoặc Bùi Trung D đi giao ma túy rồi mang tiền về đưa cho Trương Thị P. Trương Thị P trả công cho Trần Quang Mvà Bùi Trung D bằng việc cho sử dụng ma túy đá không phải trả tiền, cho tiền mua thẻ điện thoại. Trong khoảng thời giantừ ngày 18 tháng 01 năm 2018 đến ngày 25 tháng 01 năm 2018 Trương Thị P, Nguyễn Thanh T, Trần Quang Mvà Bùi Trung D đã nhiều lần thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy cho nhiều người, cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 18/01/2018 Nguyễn Thanh T đang ở phòng 404 nhà nghỉ Việt Anh 2 cùng với Trương Thị P thì nhận được điện thoại của Nguyễn Phú Tú, sinh năm 1987, trú tại thôn 10, xã MTân, huyện T, thành phố H hỏi mua 01 túi ma túy đá với giá 200.000 đồng, Nguyễn Thanh T đưa điện thoại cho Trương Thị P để Trương Thị P hẹn Nguyễn Phú Tú đến khu vực nhà nghỉ Việt Anh 2 để mua bán ma túy. Trương Thị P gọi điện thoại cho Bùi Trung D sang phòng 404 và đưa cho Bùi Trung D 01 vỏ bao thuốc lá CARAVEN bên trong có chứa túi ma túy đá để Bùi Trung D giao cho người mua ma túy và thu 200.000 đồng mang về cho Trương Thị P. Bùi Trung D cầm vỏ bao thuốc lá chứa túi ma túy xuống cửa nhà nghỉ Việt Anh 2 thì gặp Đỗ Đức D và Nguyễn Phú Tú, Bùi Trung D giao ma túy và nhận 200.000 đồng của Đỗ Đức D mang lên phòng 404 nhà nghỉ đưa cho Trương Thị P.

Lần thứ hai: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 22/01/2018 Nguyễn Thanh T đang ở phòng 404 nhà nghỉ Việt Anh 2 cùng với Trương Thị P thì nhận được điện thoại của Đỗ Đức D hỏi mua 01 túi ma túy đá với giá 200.000 đồng. Nguyễn Thanh T đồng ý bán và hẹn Đỗ Đức D đến khu vực gần nhà nghỉ Việt Anh 2 để mua bán ma túy. Nguyễn Thanh T bảo Trương Thị P đóng 01 túi ma túy 200.000 đồng rồi gọi Trần Quang Minh, Nguyễn Thanh T đưa cho Trần Quang M01 túi ma túy đá bảo Trần Quang Mmang xuống bán cho khách tại khu vực gần cửa nhà nghỉ Việt Anh

2. Tại khu vực gần nhà nghỉ Việt Anh 2, Trần Quang Mgặp Đỗ Đức D và Bùi Trung Chiến, sinh năm 1998 ở xã Hòa Bình, huyện T, thành phố H, Trần Quang Mgiao ma túy và nhận 200.000 đồng của Đỗ Đức D mang lên phòng 404 nhà nghỉ đưa cho Trương Thị P.

Lần thứ ba: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 23/01/2018 Bùi Trung D đang ở phòng 403 nhà nghỉ Việt Anh 2 thì nhận được tin nhắn của Đặng Ngọc Trung, sinh năm 2000, nơi cư trú: Thôn 1, xã Hoa Động, huyện T, thành phố H (Đặng Ngọc Trung đang thuê phòng 401 nhà nghỉ Việt Anh 2) hỏi mua 01 túi ma túy đá với giá 200.000 đồng và 01 bộ đồ ma túy đá với giá 100.000 đồng. Bùi Trung D đồng ý và sang phòng 401 nhận 300.000 đồng của Đặng Ngọc Trung. Bùi Trung D sang phòng 404 bảo Nguyễn Thanh T đưa 01túi ma túy để bán. Tại phòng 404 Nguyễn Thanh T đưa cho Bùi Trung D 01 túi ma túy đá và 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma túy cho khách mượn. Bùi Trung D mang về phòng đưa cho Trần Quang Mmang sang cho Đặng Ngọc Trung, Bùi Trung D đưa cho Trần Quang M200.000 đồng mang sang cho Trương Thị P.

Lần thứ tư: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 24/01/2018 Nguyễn Thanh T đang ở một mình tại phòng 404 thì nhận được điện thoại của Đỗ Đức D hỏi mua 01 túi ma túy đá với giá 200.000 đồng. Nguyễn Thanh T đồng ý bán và hẹn đến cửa nhà nghỉ Việt Anh 2. Nguyễn Thanh T đưa cho Trần Quang M01 túi ma túy đá bảo Trần Quang Mmang xuống bán cho khách tại cửa nhà nghỉ Việt Anh 2. Tại đây Trần Quang Mgặp Đỗ Đức D đi cùng với Cao Văn Hà, sinh năm 1986, trú tại xã Lưu Kiếm, huyện T, thành phố H, Trần Quang Mgiao ma túy và nhận 200.000 đồng của Đỗ Đức D mang lên phòng 404 nhà nghỉ đưa cho Nguyễn Thanh T.

Lần thứ 5: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 24/01/2018 Nguyễn Thanh T đang ở một mình tại phòng 404 thì nhận được điện thoại của Đỗ Đức D hỏi mua 01 túi ma túy đá với giá 200.000 đồng. Nguyễn Thanh T đồng ý bán và hẹn giao ma túy tại khu vực cầu thang tầng 4 nhà nghỉ Việt Anh 2. Nguyễn Thanh T đưa cho Trần Quang M01 túi ma túy đá để Trần Quang Mmang ra cầu thang tầng 4 đưa cho khách. Tại đây Trần Quang Mgặp Đỗ Đức D đi cùng với Cao Văn Hà, Trần Quang Mgiao ma túy và nhận 200.000 đồng của Đỗ Đức D mang lên phòng 404 nhà nghỉ đưa cho Nguyễn Thanh T.

Lần thứ 6: Khoảng 09 giờ ngày 25/01/2018 Trần Quang Msang phòng 404 nhà nghỉ Việt Anh 2 gặp Trương Thị P và Nguyễn Thanh T hỏi mua chịu 01 túi ma túy đá với giá 200.000 đồng để sử dụng, Trương Thị P đồng ý bán cho Trần Quang Minh. Trần Quang Mmang ma túy về phòng 403 nhà nghỉ Việt Anh 2 cùng với Bùi Trung D sử dụng hết.

Lần thứ 7: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 25/01/2018 Bùi Trung D đang ở phòng 403 nhà nghỉ Việt Anh 2 thì nhận được tin nhắn của Đặng Ngọc Trung hỏi mua 01 túi ma túy đá với giá 200.000 đồng để sử dụng. Bùi Trung D đồng ý rồi sang phòng 404 bảo Nguyễn Thanh T bán cho Đặng Ngọc Trung 01 túi ma túy đá với giá 200.000 đồng. Nguyễn Thanh T đưa cho Bùi Trung D 01 túi ma túy đá, Bùi Trung D gọi Trần Quang Msang phòng 404 bảo Trần Quang Mcầm ma túy sang phòng 401 bán cho Đặng Ngọc Trung. Trần Quang Msang phòng 401 thì gặp Đặng Ngọc Trung, Nguyễn Văn Tâm và Phạm Văn Tuấn. Trần Quang Mgiao ma túy và nhận 200.000 đồng của Đặng Ngọc Trung mang tiền về đưa cho Nguyễn Thanh T.

Lần thứ 8: Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 25/01/2018 Nguyễn Thanh T đang ở phòng 404 nhà nghỉ Việt Anh 2 cùng với Trương Thị P thì nhận được điện thoại của Đàm Trì Nghị và Đỗ Đức D hỏi mua 01 túi ma túy đá với giá 200.000 đồng, Nguyễn Thanh T đưa điện thoại cho Trương Thị P để giao dịch mua bán ma túy, Trương Thị P hẹn mua bán ma túy tại cửa nhà nghỉ Việt Anh 2. Trương Thị P gọi điện thoại cho Trần Quang Msang phòng 404, Trương Thị P đưa cho Trần Quang M01 túi ma túy đá bảo Trần Quang Mmang xuống cửa nhà nghỉ Việt Anh 2 để bán cho khách. Trần Quang Mmang ma túy xuống giao cho khách rồi nhận tiền mang lên đưa cho Trương Thị P. 

Trương Thị P, Nguyễn Thanh T, Trần Quang Mvà Bùi Trung D khai chất ma túy Công an thu giữ tại phòng 404 nhà nghỉ Việt Anh 2 là của Trương Thị P mua với mục đích vừa sử dụng vừa bán cho người khác. Vỏ túi nilon, ống hút nhựa, cân điện tử, kéo, bật lửa ga thu tại phòng 404 nhà nghỉ Việt Anh 2 là dụng cụ để Trương Thị P đóng gói ma túy và cùng Nguyễn Thanh T sử dụng ma túy. Nỏ thủy tinh thu tại phòng 403 nhà nghỉ Việt Anh 2 là dụng cụ để Trần Quang Mvà Bùi Trung D sử dụng ma túy đá.

Bản cáo trạng số 111/CT-VKSTN ngày 03 tháng 10 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố H đã truy tố các bị cáo Trương Thị P, Nguyễn Thanh T, Trần Quang Mvà Bùi Trung D về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b, c, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Trương Thị P, Nguyễn Thanh T, Trần Quang Mvà Bùi Trung D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố. Viện kiểm sát nhân dân huyện T, thành phố H truy tố các bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b, c, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là đúng nhưng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố H trình bày lời luận tội đối với các bị cáo Trương Thị P, Nguyễn Thanh T, Trần Quang Mvà Bùi Trung D, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị kết tội các bị cáo Trương Thị P, Nguyễn Thanh T, Trần Quang Mvà Bùi Trung D theo toàn bộ nội dung cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, c, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự (áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 đối với bị cáo Bùi Trung D), xử phạt bị cáo Trương Thị P từ 10 năm 06 tháng đến 11năm 06 tháng tù, bị cáo Nguyễn Thanh T từ 09 năm 06 tháng đến 10 năm 06 tháng tù, bị cáo Trần Quang M từ 09 năm đến 10 năm tù, bị cáo Bùi Trung D từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 26 tháng 01 năm 2018. Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo Trương Thị P, Nguyễn Thanh T, Trần Quang Mvà Bùi Trung D. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đòng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy, nỏ thủy tinh, ống hút, vỏ túi nilon đựng chất ma túy còn lại sau giám định được đựng trong 02 phong bì niêm phong số 68/PC54 và 01 phong bì niêm phong số 69/PC 54 của Phòng PC54- CATP H, tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn, 01 hộp giấy màu đen bề mặt in dòng chữ Zippo; 01 hộp nhựa màu xanh lá cây hình trụ, 01 hộp nhựa kích thước 07x14x19cm, 01 cân điện tử, 03 bật lửa ga, 01 kéo, 55 vỏ túi nilon, 01 bộ đồ sử dụng ma túy đá tự chế (không có nỏ thủy tinh). Tịch thu phát mại sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại OPPO màu đen đã qua sử dụng, 01 điện thoại Nokia màu đen, model 2730C, imei 356057/03/268878/0 đã qua sử dụng; 01 điện thoại Nokia, model 215i, imei 1: 351681071501102, imei2: 351681071501110 đã qua sử dụng. Tạm giữ số tiền 1.300.000 đồng thu của bị cáoTrương Thị P để đảm bảo việc thi hành án. Truy thu số tiền 1.400.000 đồng của bị cáo Trương Thị P do bán ma túy mà có để sung vào ngân sách nhà nước

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về trình tự thủ tục, thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp

 [2] Lời khai của các bị cáo Trương Thị P, Nguyễn Thanh T, Trần Quang Mvà Bùi Trung D tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, phù hợp với lời khai của người làm chứng, lời khai của người chứng kiến, biên bản khám xét, kết luận giám định số 68/KLGĐ(Đ6) ngày 30 tháng 01 năm 2018 và kết luận giám định số 69/KLGĐ(Đ6) ngày 30 tháng 01 năm 2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố H, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã xem xét công khai tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa đã đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Trương Thị P đã cùng với các bị cáo Nguyễn Thanh T, Trần Quang Mvà Bùi Trung D thực hiện hành vi cất giữ 22,66 gam ma túy là loại Methamphetamine và 0,65 gam ma túy là loại Ketamine nhằm mục đích bán trái phép chất ma túy cho người khác và đã nhiều lần bán trái phép chất ma túy là loạiMethamphetamine cho Đỗ Đức D, Nguyễn Phú Tú, Đàm Trì Nghị, Cao Văn Hà, Bùi Trung Chiến, Nguyễn Văn Tâm, Đặng Ngọc Trung và Phạm Văn Tuấn vào các ngày 18/01/2018, 22/01/2018, 23/01/2018, 24/01/2018 và ngày 25/01/2018. Vì vậy các bị cáo Trương Thị P, Nguyễn Thanh T, Trần Quang Minh, Bùi Trung D đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết định khung hình phạt: Các bị cáo Trương Thị P, Nguyễn Thanh T, Trần Quang Mvà Bùi Trung D đã thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy nhiều lần cho nhiều người và cất giữ 22,66 gam ma túy là loại Methamphetamine,0,65 gam ma túy là loại Ketamine nhằm mục đích vừa sử dụng vừa bán trái phép chất ma túy cho người khác nên các bị cáo Trương Thị P, Nguyễn Thanh T, Trần Quang Minh, Bùi Trung D đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý với tình tiết định khung hình phạt là phạm tội 02 lần trở lên, đối với 02 người trở lên và có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng của các chất đó tương đương với khối lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này theo quy định tại điểm b, c, p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố H đã truy tố và đề nghị kết tội các bị cáo Trương Thị P, Nguyễn Thanh T, Trần Quang Mvà Bùi Trung D về Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b, c khoản 2 Điều 251của Bộ luật Hình sự là đúng nhưng chưa chính xác về điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự bởi vì: Theo quy định tại khoản 3 Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP quy định về việc tính khối lượng và thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 của Chính phủ thì tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của Methamphetamine và Ketamine so với mức tối thiểu đối với từng chất đó được quy định tại khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là dưới 100% nên tổng khối lượng của Methamphetamine và Ketamine trong trường hợp này thuộc trường hợp quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

 [3] Xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; tính chất, mức độ tham gia phạm tội và nhân thân của từng bị cáo để quyết định hình phạt:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Loại tội phạm này đang có chiều hướng gia tăng, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo và tăng cường công tác đấu tranh, phòng chống loại tội phạm này tại địa phương.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Trương Thị P, Nguyễn Thanh T, Trần Quang Mvà Bùi Trung D không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội và tại phiên tòa các bị cáo Trương Thị P, Nguyễn Thanh T, Trần Quang Mvà Bùi Trung D đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Bùi Trung D có bố đẻ là ông Bùi Văn Bình được tặng Huy chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, hạng nhì, hạng ba là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự cần áp dụng đối với bị cáo Bùi Trung D.

Về nhân thân: Năm 2011 bị cáo Trương Thị P đã bị Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 26 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy đã được xóa án tích nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân xấu. Năm 2015 bị cáo Nguyễn Thanh T đã bị Tòa án nhân dân huyện T, thành phố H quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng, ngày 04 tháng 7 năm 2017 Nguyễn Thanh T mới chấp hành xong. Bị cáo Trần Quang Mvà Bùi Trung D không có tiền án, tiền sự.

Đây là vụ án đồng phạm có nhiều người tham gia nên cần xem xét tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng bị cáo để làm căn cứ cho việc quyết định hình phạt. Trong vụ án xác định bị cáo Trương Thị P là người giữ vai trò chính, trực tiếp mua ma túy về chia nhỏ và giao dịch bán ma túy, phân công Trần Quang Minh, Bùi Trung D bán ma túy và thu lợi. Bị cáo Nguyễn Thanh T cùng với bị cáo Trương Thị P điều hành việc bán ma túy, sử dụng điện thoại của bị cáo để giao dịch bán ma túy, phân công Trần Quang Minh, Bùi Trung D bán ma túy và được bị cáo Trương Thị Phương cho ăn, ở và sử dụng ma túy không phải trả tiền nên giữ vai trò thấp hơn bị cáo Trương Thị P. Bị cáo Trần Quang Mvà Bùi Trung Trung trực tiếp bán hộ chất ma túy theo sự phân công của Trương Thị P, Nguyễn Thanh T và được Trương Thị P cho sử dụng ma túy không phải trả tiền và cho tiền nạp thẻ điện thoại, Trần Quang Mđã 05 lần bán ma túy, Bùi Trung D đã 03 lần bán ma túy nên vai trò của hai bị cáo là ngang nhau và thấp hơn bị cáo Nguyễn Thanh T.

Từ những phân tích đánh giá trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù với mức hình phạt trên khởi điểm của khung hình phạt theo đề nghị của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân huyện T tại phiên tòa buộc các bị cáo phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ điều kiện để cải tạo giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung. Bị cáo Trương Thị P phải chịu mức hình phạt cao nhất, bị cáo Nguyễn Thanh T chịu mức hình phạt thấp hơn bị cáo Trương Thị P nhưng phải cao hơn bị cáo Bùi Trung D và Trần Quang Minh. Bị cáo Trần Quang Mvà Bùi Trung D giữ vai trò ngang nhau nhưng xét bị cáo Bùi Trung D có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hơn so với bị cáo Trần Quang Mnên mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo Bùi Trung D phải thấp hơn bị cáo Trần Quang Minh.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự thì các bị cáo Trương Thị P, Nguyễn Thanh T, Trần Quang Minh, Bùi Trung D còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét các bị cáo Trương Thị P, Nguyễn Thanh T, Trần Quang Minh, Bùi Trung D không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

 [4] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 củaBộ luật Tố tụng hình sự xác định số ma túy, nỏ thủy tinh, ống hút, vỏ túi nilon đựng chất ma túy còn lại sau giám định được đựng trong 02 phong bì niêm phong số 68/PC 54 và 01 phong bì niêm phong số 69/PC54 của Phòng PC54-CATP H, tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ; 01 hộp giấy màu đen bề mặt in dòng chữ Zippo, 01 hộp nhựa màu xanh lá cây hình trụ, 01 hộp nhựa kích thước 07x14x19cm, 01 cân điện tử, 03 bật lửa ga, 01 kéo, 55 vỏ túi nilon, 01 bộ đồ sử dụng ma túy đá tự chế (không có nỏ thủy tinh) là vật liên quan đến việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại OPPO màu đen đã qua sử dụng thu của Trần Quang Minh; 01 điện thoại Nokia màu đen, model 2730C, IMEI 356057/03/268878/0 đã qua sử dụng thu của Nguyễn Thanh T; 01 điện thoại Nokia, model 215i, IMEI 1: 351681071501102, IMEI 2: 351681071501110 đã qua sử dụng thu của Đỗ Đức D, xác định là công cụ dùng vào việc mua bán ma túy cần tịch thu phát mại sung vào ngân sách nhà nước. Đối với số tiền 1.300.000 đồng thu của Trương Thị P xác định là tiền do bán ma túy mà có cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Số tiền 1.400.000 đồng do bị cáo Trương Thị P bán ma túy cho Đỗ Đức D, Nguyễn Phú Tú, Đàm Trì Nghị, Cao Văn Hà, Bùi Trung Chiến, Nguyễn Văn Tâm, Đặng Ngọc Trung và Phạm Văn Tuấn vào các ngày 18/01/2018, 22/01/2018, 23/01/2018, 24/01/2018 và ngày 25/01/2018, được xác định là tiền do phạm tội mà có cần truythu sung vào ngân sách nhà nước.

 [5] Về án phí:

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Trương Thị P, Nguyễn Thanh T, Trần Quang Minh, Bùi Trung D, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

 [6] Trong vụ án này ông Hoàng Văn Lĩnh, sinh năm 1962, nơi cư trú tổ dân phố Bạc Đằng 2, thị trấn Núi Đèo, huyện T, thành phố H là chủ nhà nghỉ Việt Anh 2 đã cho Trương Thị P, Nguyễn Thanh T, Trần Quang Mvà Bùi Trung D thuê phòng. Quá trình điều tra xác định ông Hoàng Văn Lĩnh không biết các đối tượng bán và sử dụng ma túy trong phòng của nhà nghỉ Việt Anh 2 nên Công an huyện T không xử lý. Đối với Đỗ Đức D, Đàm Trì Nghị, Cao Văn Hà, Nguyễn Phú Tú, Nguyễn Văn Tâm, Phạm Văn Tuấn, Đặng Ngọc Trung đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định pháp luật. Đối với Bùi Trung Chiến là người góp tiền cùng với Đỗ Đức D để mua ma túy sử dụng ngày 22/01/2018 nhưng hiện Bùi Trung Chiến vắng mặt tại địa phương nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tách ra tiếp tục xác Mlàm rõ sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b, c, p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều38, Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trương Thị P 11 (mười một) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 26 tháng 01 năm 2018.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 10 (mười) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 26 tháng 01 năm 2018.

Xử phạt bị cáo Trần Quang M09(chín) năm 06(sáu) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 26 tháng 01 năm 2018. 

Căn cứ vào điểm b, c, p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều51, Điều 38, Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Trung D 09 (chín) năm tù về tội Mua bán trái phép chấtma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 26 tháng 01 năm2018.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy số ma túy, nỏ thủy tinh, ống hút, vỏ túi nilon đựng chất ma túy còn lại sau giám định được đựng trong 02 phong bì niêm phong số 68/PC54 và 01 phong bì niêm phong số 69/PC54 của Phòng PC54-CATP H, tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn, 01 hộp giấy màu đen bề mặt in dòng chữ Zippo, 01 hộp nhựa màu xanh lá cây hình trụ, 01 hộp nhựa kích thước 07x14x19cm, 01 cân điện tử, 03 bật lửa ga, 01 kéo, 55 vỏ túi nilon và 01 bộ đồ sử dụng ma túy đá tự chế (không có nỏ thủy tinh) (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày03 tháng 10 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên, thành phố H).

- Tịch thu phát mại sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại OPPO màu đen đã qua sử dụng; 01 điện thoại Nokia màu đen, model 2730C, IMEI 356057/03/268878/0 đã qua sử dụng; 01 điện thoại Nokia, model 215i, IMEI 1: 351681071501102, IMEI 2: 351681071501110 đã qua sử dụng (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 03 tháng 10 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên, thành phố H).

- Tịch thu sung vào ngân sách nước số tiền 1.300.000 đồng thu của bị cáo Trương Thị P (Theo biên lai thu tiền số 0000110 ngày 03 tháng 10 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T, thành phố H).

- Truy thu số tiền 1.400.000 đồng của bị cáo Trương Thị P do phạm tội mà có để sung vào ngân sách nhà nước. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành xong khoản tiền truy thu thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

Về án phí:

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Trương Thị P, Nguyễn Thanh T, Trần Quang Mvà Bùi Trung D, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo bản án: Các bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


49
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về