Bản án 13/2015/HCPT ngày 07/09/2015 về khởi kiện quyết định hành chính

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 13/2015/HCPT NGÀY 07/09/2015 VỀ KHỞI KIỆN QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH 

Ngày 07 tháng 9 năm 2015, tại trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 62/2014/TLPT-HC ngày 19 tháng 9 năm 2014 về việc “khởi kiện quyết định hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc” do Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2014/HC-ST ngày 25/07/2014 của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 316/2015/QĐ-PT ngày 19 tháng 8 năm 2015, giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Ông Nguyễn Quốc Thắm, sinh năm 1963; địa chỉ: thôn Ngoại Trạch, xã Tam Hợp, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc; có mặt.

- Người bị kiện: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; địa chỉ: đường Nguyễn Trãi, phường Đống Đa, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc;

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Hoàng Văn Nhiệm, Phó Giám đốc Sở Tài chính tỉnh Vĩnh Phúc (văn bản uỷ quyền ngày 27/02/2014), Ông Nhiệm; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

          1. Trường Cao đẳng nghề cơ khí nông nghiệp; địa chỉ: xã Tam Hợp, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc; người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn An, Hiệu trưởng;

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Đặng Cao Cường, cán bộ ban quản lý dự án (Văn bản uỷ quyền ngày 27/02/2014), ông Cường có mặt.

2. Bà Nguyễn Thanh Khoa, sinh năm 1970; địa chỉ: thôn Tam Lộng, xã Hương Sơn, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.

3. Chị Nguyễn Quốc Phương Anh, sinh năm 1992; địa chỉ: thôn Ngoại Trạch, xã Tam Hợp, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt.

Người đại diện theo uỷ quyền của bà Khoa và chị Phương Anh: Ông Nguyễn Quốc Thắm (theo văn bản uỷ quyền ngày 12/3/2014 và ngày 10/4/2014);

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 30/7/2012 và những lời khai tiếp theo, ông Nguyễn Quốc Thắm là người khởi kiện và là người đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thanh Khoa và chị Nguyễn Quốc Phương Anh trình bày:

Năm 2002, Nhà nước thu hồi của gia đình ông 2.802m2 đất nông nghiệp để giao cho chủ đầu tư là Trường Cao đẳng nghề cơ khí nông nghiệp xây dựng Trung tâm sát hạch cấp giấy phép lái xe. Khi thu hồi diện tích đất trên, Nhà nước chỉ đền bù hỗ trợ cho gia đình ông 1.884m2 đất, còn 918m2 đất không hỗ trợ cho gia đình ông. Theo 03 biên bản kiểm kê tài sản để hỗ trợ bồi thường cho gia đình ông thì tổng số tiền gia đình ông được đền bù là 52.924.582 đồng nhưng trên thực tế gia đình ông chỉ nhận được số tiền đền bù là 34.287.934 đồng, còn thiếu 18.693.648 đồng.

Do vậy, ông khởi kiện Quyết định số: 2892/QĐ-CT ngày 07/8/2002 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc về việc phê duyệt phương án đền bù giải phóng mặt bằng công trình xây dựng trung tâm sát hạch, cấp giấy phép lái xe. Đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc huỷ Quyết định trên vì Quyết định này trái pháp luật, không đủ căn cứ pháp lý để ban hành và Quyết định này chỉ là quyết định tổng thể, không phải là Quyết định thu hồi đất cá biệt, Trung tâm sát hạch, cấp giấy phép lái xe nằm trong mục, nhóm nào của Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 mà Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc lại căn cứ vào Nghị định này để áp giá đền bù về đất cho người dân, Quyết định số 2892/QĐ-CT ngày 07/8/2002 do Phó Chủ tịch ký thay Chủ tịch là vi phạm Điều 52 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân. Ngoài yêu cầu hủy Quyết định 2892, ông còn yêu cầu bồi thường gồm:

- 151.308.000 đồng tiền hỗ trợ việc làm;

- 14.070.000 đồng tiền hỗ trợ ổn định đời sống;

- 70.200.000 đồng tiền hỗ trợ gạo;

- 18.693.648 đồng tiền bồi thường còn thiếu;

- 252.450.000 đồng thiệt hại về cá trên diện tích 918m2 trong 11 năm không được canh tác;

- 37.867.500 đồng tiền thiệt hại về thóc trên diện tích 918m2 trong 11 năm không được canh tác;

- Bồi thường 2900m2 đất nông nghiệp do Nhà nước gây thiệt hại;

- Bồi thường 93,4m2 đất dịch vụ;

- Bồi thường 300m2 đất ở;

- Yêu cầu Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc trả cho gia đình ông 2802m2 theo nguyên tắc thu hồi đất nào thì trả đất đó theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009; Điều 5 Quyết định 59/2009/QĐUB ngày 10/11/2009 về việc ban hành quy định thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và đơn giá bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc; Điều 6 Nghị định 197 và Điều 2 phần 1.1 điểm 2.3 khoản 6 Thông tư 116/ 2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ tài chính;

- Bồi thường cho gia đình ông 918m2 bằng đất ở tại vị trí khác nhưng phải liền thửa hoặc bồi thường toàn bộ bằng tiền theo giá đất tại thời điểm hiện nay;

- Thực hiện chính sách hỗ trợ theo Điều 20 của Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 trên diện tích đất bị thu hồi là 918m2 và ổn định đời sống, hỗ trợ việc làm.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Thắm trình bầy nếu Ủy ban nhân dân tỉnh đồng ý thì ông chỉ yêu cầu các khoản gồm:

- Bồi thường 300m2 đất ở;

- Bồi thường 93,4m2 đất dịch vụ;

- 18.693.648 đồng tiền bồi thường còn thiếu;

- 252.450.000 đồng tiền thiệt hại về cá trên diện tích 918m2 trong 11 năm không được canh tác;

- 37.867.500 đồng tiền thiệt hại về thóc trên diện tích 918m2 trong 11 năm không được canh tác.

Nếu Ủy ban nhân dân tỉnh không đồng ý thì vẫn yêu cầu xem xét toàn bộ các khoản theo đơn khởi kiện.

Đối với việc thu hồi và bồi thường 1.884m2 đất, gia đình ông đã nhận tiền bồi thường và không có ý kiến gì.

* Người đại diện theo uỷ quyền của người bị kiện trình bày:

Quyết định số 2892/QĐ-CT ngày 07/8/2002 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc về việc phê duyệt phương án đền bù giải phóng mặt bằng công trình xây dựng trung tâm sát hạch, cấp giấy phép lái xe được ban hành theo đúng thẩm quyền theo quy định của Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998. Về trình tự thực hiện bồi thường thiệt hại được vận dụng theo Điều 34 của Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998, theo đó trong trường hợp cần thiết phải sớm giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án thì có thể thành lập Hội đồng đền bù trước khi có quyết định thu hồi đất. Đối với dự án xây dựng Trung tâm sát hạch cấp giấy phép lái xe đã thành lập Hội đồng đền bù trước, sau đó mới ra Quyết định số 1145/QĐ-UB ngày 03/4/2003 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc về việc giao đất cho Trường công nhân cơ khí nông nghiệp 1 Trung ương xây dựng bãi tập kiêm trung tâm sát hạch cấp giấy phép lái xe tại xã Hương Sơn và xã Tam Hợp huyện Bình Xuyên. Căn cứ vào các chế độ chính sách tại thời điểm ra Quyết định số 1145/QĐ-UB ngày 03/4/2003 quyền lợi của người dân vẫn đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Quyết định số 2892/QĐ-CT ngày 07/8/2002 chỉ ghi tổng số cho từng hạng mục nhưng kèm theo là tờ trình số 840/TT-TCVG ngày 01/8/2002 của Sở Tài chính - Vật giá có danh sách của từng hộ gia đình, cá nhân được đền bù về đất đai, tài sản, hoa màu, các chính sách hỗ trợ. Danh sách này do Hội đồng bồi thường của huyện Bình Xuyên tính toán trên cơ sở kiểm đếm công khai trình Sở Tài chính - Vật giá thẩm định. Danh sách này được niêm yết công khai tại Uỷ ban nhân dân xã, ông Thắm nhận tiền và cam kết trả mặt bằng. Khi kiểm đếm, ông Thắm cũng trực tiếp ký vào tờ khai, các biên bản, giấy nhận tiền. Danh sách các hạng mục của ông Thắm, ông Thắm có được nhận. Về phương án tính đền bù, căn cứ vào các chế độ chính sách tại thời điểm bồi thường, hỗ trợ thì phương án tính bồi thường giải phóng mặt bằng của hộ ông Thắm đã được tính đúng theo chế độ chính sách. Phương án đền bù do Uỷ ban nhân dân huyện Bình Xuyên thực hiện trình Sở Tài chính thẩm định và trình Uỷ ban nhân dân tỉnh ra quyết định. Trong hồ sơ trình thẩm định có biên bản kiểm kê đất đai, tài sản, hoa màu của Hội đồng bồi thường huyện Bình Xuyên và chủ hộ đã ký xác nhận. Hội đồng đền bù huyện Bình Xuyên đã thực hiện theo đúng chế độ chính sách và tính toán theo quy định tại thời điểm đền bù. Số tiền đền bù của hộ ông Thắm là 34.287.934 đồng (gồm tiền đền bù hỗ trợ về đất là 12.057.000 đồng và tài sản hoa lợi cùng các khoản hỗ trợ là 22.230.934 đồng) đã được tính toán theo đúng quy định. Việc nhận tiền được tiến hành công khai và có cam kết của chủ hộ về nhận tiền và bàn giao mặt bằng. Do vậy, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

* Đại diện theo uỷ quyền của Trường Cao đẳng nghề Cơ khí nông nghiệp, ông Đặng Cao Cường trình bày:

Năm 2002, Nhà nước thu hồi 35.868m2 đất tại xã Hương Sơn và xã Tam Hợp, huyện Bình Xuyên để giao cho nhà trường xây dựng bãi tập kiêm trung tâm sát hạch cấp giấy phép lái xe (được thể hiện ở Quyết định số 1666/QĐ-UB ngày 03/5/2002 và Quyết định số 1145/QĐ-UB ngày 03/4/2003). Thực hiện Quyết định số 2892/QĐ-CT ngày 07/8/2002, Ban đền bù giải phóng mặt bằng huyện Bình Xuyên phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã Tam Hợp tiến hành lập phương án bồi thường đất đai, tài sản hoa màu cho các hộ bị thu hồi đất, trong đó có hộ ông Thắm, cụ thể như sau: Tại tờ trình số 840/TT-TCVG ngày 01/8/2002 của Sở Tài chính về việc xin phê duyệt phương án đền bù, gia đình ông Thắm được đền bù với các nội dung:

- Đền bù về đất: 1.884m2 với số tiền 12.057.600 đồng;

- Đền bù hoa màu cây cối: 9.927.040 đồng;

- Đền bù tài sản: 5.642.394 đồng; .

- Hỗ trợ ổn định đời sống và hỗ trợ khác: 3.956.400 đồng.

Biên bản làm việc ngày 16/9/2002 giữa Hội đồng đền bù giải phóng mặt bằng và ông Thắm xác định bổ sung số tiền đền bù là 2.704.500 đồng. Nhà trường căn cứ vào phương án đền bù được duyệt và tiến hành chi trả cho gia đình ông Thắm tại các phiếu chi như sau: Phiếu chi số 693 ngày 09/9/2002 của Trường Công nhân cơ khí nông nghiệp 1 Trung ương với tổng số tiền trong phiếu chi là 383.495.487 đồng, trong đó có bảng kê chi tiết cho gia đình ông Thắm là 31.583.434 đồng; phiếu chi số 716 ngày 17/9/2002 của Trường Công nhân cơ khí nông nghiệp 1 Trung ương với số tiền là 2.704.500 đồng. Đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

 Tại bản án hành chính sơ thẩm số 01/2014/HC-ST ngày 25/7/2014, Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã áp dụng:

- Điểm a khoản 2 Điều 163 Luật tố tụng hành chính;

- Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án;

- Điểm c khoản 3 Điều 19 của Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13/6/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án, xử:

1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Quốc Thắm về việc hủy Quyết định số 2892/QĐ-CT ngày 07/8/2002 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc về việc phê duyệt phương án bồi thường dự án xây dựng Trung tâm đào tạo kiêm sát hạch lái xe tại Trường cơ khí nông nghiệp I.

2. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Quốc Thắm về việc yêu cầu Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc bồi thường, hỗ trợ các khoản:

- 151.308.000đ (một trăm năm mốt triệu ba trăm linh tám nghìn đồng) tiền hỗ trợ việc làm;

- 14.070.000đ (mười bốn triệu không trăm bảy mươi nghìn đồng) tiền hỗ trợ ổn định đời sống;

- 70.200.000đ (bảy mươi triệu hai trăm nghìn đồng) tiền hỗ trợ gạo;

- 18.693.648đ (mười tám triệu sáu trăm chín mươi ba nghìn sáu trăm bốn mươi tám đồng) tiền bồi thường còn thiếu;

- 252.450.000đ (hai trăm năm hai triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng) tiền thiệt hại về cá;

- 37.867.500đ (ba mươi bảy triệu tám trăm sáu mươi bảy nghìn năm trăm đồng) thiệt hại về thóc;

- Bồi thường 2900m2 đất nông nghiệp do nhà nước gây thiệt hại;

- Bồi thường 93,4m2 đất dịch vụ;

- Bồi thường 300m2 đất ở;

- Yêu cầu UBND tỉnh Vĩnh Phúc trả cho gia đình ông 2802m2 theo nguyên tắc thu hồi đất nào thì trả đất đó theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009; Điều 5 Quyết định 59/2009/QĐUB ngày 10/11/2009 về việc ban hành quy định thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và đơn giá bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc; Điều 6 Nghị định 197 và Điều 2 phần 1.1 điểm 2.3 khoản 6 thông tư 116/2004/TT - BTC ngày 07/12/2004 của Bộ tài chính;

- Bồi thường cho gia đình ông 918m2 bằng đất ở tại vị trí khác nhưng phải liền thửa hoặc bồi thường toàn bộ bằng tiền theo giá đất tại thời điểm hiện nay;

- Thực hiện chính sách hỗ trợ theo Điều 20 của Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 trên diện tích đất bị thu hồi là 918m2 và ổn định đời sống, hỗ trợ việc làm.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

  Ngày 08 tháng 8 năm 2014, ông Nguyễn Quốc Thắm có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ vụ án.

  Tại phiên tòa phúc thẩm, các bên đương sự không đối thoại được với nhau về việc giải quyết vụ án, người khởi kiện ông Nguyễn Quốc Thắng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên kháng cáo và đề nghị xét xử đúng pháp luật, không làm thiệt hại quyền và lợi ích hợp pháp của ông.

Đại diện theo ủy quyền của người bị kiện là Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc cho rằng Quyết định số 2892/QĐ-CT ngày 07/8/2002 của Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc về việc phê duyệt phương án đền bù giải phóng mặt bằng công trình xây dựng Trung tâm sát hạch, cấp giấy phép lái xe được ban hành theo đúng quy định của pháp luật. Về trình tự thực hiện bồi thường thiệt hại, trong đó phương án đền bù, chế độ chính sách bồi thường, hỗ trợ được thực hiện đúng quy định tại Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chính Phủ. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định bác toàn bộ đơn khởi kiện của ông Nguyễn Quốc Thắm là đúng pháp luật. Đề nghị giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến phiên tòa phúc thẩm đều tuân thủ đúng quy định của Luật tố tụng hành chính. Về nội dung vụ án thấy: Quyết định số 2892/QĐ-CT ngày 07/8/2002 của chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc không phải là quyết định cá biệt. Tòa án cấp sơ thẩm chưa giải quyết đúng yêu cầu của người khởi kiện. Đề nghị hủy bản án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

XÉT THẤY

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày, tranh luận tại phiên tòa của người khởi kiện, bên bị kiện và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

Tại đơn khởi kiện (tại các bút lục số 27, 28, 29), người khởi kiện là ông Nguyễn Quốc Thắm yêu cầu Tòa án giải quyết hủy các quyết định sau:

- Quyết định số 2892/QĐ-CT ngày 07/8/2002 của chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc về phê duyệt phương án đền bù giải phóng mặt bằng công trình xây dựng Trung tâm sát hạch, cấp giấy phép lái xe.

- Quyết định số 2011/QĐ-CT ngày 10/8/2010 của chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc về việc giải quyết khiếu nại về đất đai của hộ ông Nguyễn Quốc Thắm ở thôn Ngoại Trạch, xã Tam Hợp, huyện Bình Xuyên.

- Quyết định số 15/QĐ-UBND ngày 06/01/2010 của Ủy ban nhân dân huyện Bình Xuyên về việc phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ giải phóng mặt bằng xây dựng mở rộng Trường cao đẳng cơ khí nông nghiệp. Địa điểm: xã Hương Sơn và xã Tam Hợp - huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Quyết định số 224/QĐ-UBND ngày 20/01/2010 của Ủy ban nhân dân huyện Bình Xuyên về việc phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ giải phóng mặt bằng xây dựng mở rộng Trường cao đẳng cơ khí nông nghiệp. Địa điểm: xã Hương Sơn và xã Tam Hợp - huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc (bổ sung).

Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xem xét đánh giá tính hợp pháp đối với Quyết định số 2892/QĐ-CT ngày 07/8/2002 của chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc về phê duyệt phương án đền bù giải phóng mặt bằng công trình xây dựng Trung tâm sát hạch, cấp giấy phép lái xe mà không xem xét giải quyết các quyết định khác là: Quyết định số 2011/QĐ-CT ngày 10/8/2010 của chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; Quyết định số 15/QĐ-UBND ngày 06/01/2010 và Quyết định số 224/QĐ-UBND ngày 20/01/2010 của Ủy ban nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc là bỏ sót yêu cầu của người khởi kiện, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng quy định tại Điều 163 Luật tố tụng hành chính và xác định không đúng đối tượng khởi kiện.

 Theo đơn khởi kiện của người khởi kiện thì Quyết định số 2011/QĐ-CT ngày 10/8/2010 của chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc về việc giải quyết khiếu nại về đất đai của hộ ông Nguyễn Quốc Thắm ở thôn Ngoại Trạch, xã Tam Hợp, huyện Bình Xuyên là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính mà Tòa án cấp sơ thẩm phải giải quyết, đồng thời Tòa án cũng phải xem xét, đánh giá tính hợp pháp của các quyết định hành chính nói trên theo yêu cầu khởi kiện.

Do có sự vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể bổ sung được. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy có căn cứ chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện là ông Nguyễn Quốc Thắm, hủy bản án hành chính sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên tòa.

Về án phí phúc thẩm: ông Nguyễn Quốc Thắm không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên; căn cứ khoản 3 Điều 205 Luật tố tụng hành chính;

QUYẾT ĐỊNH

- Hủy Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2014/HC-ST ngày 25/7/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

- Căn cứ Điều 37 Pháp lệnh Số: 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án:

Ông Nguyễn Quốc Thắm không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.

Hoàn trả ông Nguyễn Quốc Thắm 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm mà ông Thắm đã nộp, theo biên lai thu tiền số AA/2012/01750 ngày 19/8/2014 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày tuyên án.       


190
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về