Bản án 13/2018/HS-PT ngày 16/03/2018 về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

BẢN ÁN 13/2018/HS-PT NGÀY 16/03/2018 VỀ TỘI TIÊU THỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ

Trong ngày 16-3-2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ, xét xử phúc thẩm công khai, vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 22/2018/TLPT-HS ngày 5-2-2018, đối với bị cáo Nguyễn Kim D, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 10/2017/HSST ngày 21 tháng 12 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện T.

- Bị cáo có kháng cáo :

Nguyễn Kim D, sinh năm 1957, tại xã V, huyện T, thành phố Cần Thơ. Nơi cư trú: Ấp Q, xã V, huyện T, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Trà (chết) và bà: Hoàng Thị Viên; có vợ: Lê Thị Hằng Nga và 04 con: Lớn nhất sinh năm 1984 - nhỏ nhất sinh năm 1987; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại. Có mặt.

Trong vụ án còn có 03 bị cáo khác, nhưng không có kháng cáo.

Những người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có kháng cáo.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 28-6-2017, Nguyễn Trọng N rủ Nguyễn Văn Đ1, TôLâm Hoàng T1 và Trần Văn N1 cùng đi trộm vịt, bán, lấy tiền tiêu xài. Tất cả đồngý. T1 lấy xuồng máy của bà Nguyễn Thị H để đi. Khoảng 0 giờ 10 phút ngày 29-6- 2017, tất cả đến chuồng vịt của ông Lê Văn G, ở ấp L1, xã M, huyện T, thành phố Cần Thơ. Sau khi lùa Đ1 khoảng 160 con vịt ra khỏi chuồng, ông G phát hiện. T1 bị bắt giữ cùng với phương tiện. N1, N và Đ1 chạy thoát. Ngày 1-7-2017 tất cả ra đầu thú tại Công an huyện T.

Tại Cơ quan điều tra, tất cả khai nhận thêm 5 vụ trộm cắp vịt khác. Cụ thể như sau:

Vụ 1: Đêm 12 rạng sáng 13-6-2017, N, N1, T1 và Đ1 trộm 74 con vịt của ông Hàng Tỷ, ở ấp L, xã V, huyện T. Chết 10 con. Còn lại 64 con. N bán cho Nguyễn Kim D 16 con, được 800.000đ. T1 và N1 bán cho Nguyễn Văn T32 con, được 1.600.000đ. Đ1 mang 16 con về nhà, nuôi.

Vụ 2: N và N1 trộm 82 con vịt ở K 6, xã V, huyện T. N và N1 bán cho D, Đ1 2.000.000đ.

Vụ 3: N và T1 trộm 30 con vịt ở huyện C, bán cho D, Đ1 1.200.000đ.

Vụ 4: N, N1, T1 và Đ1 trộm 58 con vịt ở huyện C. Chết 2 con. Còn lại 56 con bán cho D, Đ1 2.800.000đ.

Vụ 5: Ngày 22-6-2017, N, N1, T1 và Đ1 trộm 165 con vịt của bà Bùi ThịThu Hà, ở ấp Đ, xã M, huyện T. Chết 5 con. Còn lại 160 con, bán cho D, được 6.400.000đ.

Theo kết quả khảo sát thì trung bình, mỗi con vịt đẻ có trọng lượng 1,2 – 1,5 kg. Theo kết quả định giá thì mỗi con có giá 55.000đ. Tại bản án số 10/2017/HS-ST ngày 21-12-2017 Tòa án nhân dân huyện T đã áp dụng khoản 1 Điều 250; các điểm b và p khoản 1, khoản 2 Điều Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm1999; xử phạt Nguyễn Kim D 01 năm tù.

Ngoài ra, còn có các quyết định: về hình phạt đối với 03 bị cáo khác, xử lý vật chứng và án phí trong vụ án.

Sau khi tuyên án sơ thẩm, ngày 29-12-2017 bị cáo Nguyễn Kim D kháng cáo, xin giảm mức hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Kim D vẫn giữ nguyên kháng cáo. Bị cáo không có cung cấp thêm chứng cứ về các tình tiết mới.

Kiểm sát viên nhận định bản án sơ thẩm đã tuyên có căn cứ và đúng pháp luật. Mức hình phạt đã tuyên là không nặng, đã có xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, nên đề nghị giữ nguyên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quá trình tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm tuân thủ các quy định của Pháp luật, bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho những người tham gia tố tụng. Các chứng cứ tại hồ sơ đủ để kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như để giải quyết các vấn đề khác có liên quan.

[1] Bị cáo đã nhiều lần mua vịt của N, N1, Đ1 và T1, mà biết rõ là do trộm cắp mà có. Trong vụ án này bị cáo đã mua 344 con vịt. Bị cáo tự khai - đã mua 8 lần. Bị cáo biết rõ lai lịch và điều kiện sinh sống của các bị cáo này, cụ thể là không có nuôi vịt và còn ăn cắp vặt (Bl.480-481). N và N1 đều xác định bị cáo biết rõ là vì các bị cáo này có nói cho bị cáo biết. Thậm chí là có dấu hiệu đồng phạm của bị cáo trong vụ án (BL.220, 224, 230, 261, 263, 273). Xét xử bị cáo theo khoản 1 Điều 250 và điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999 là có căn cứ.

[2] Hiện nay tội phạm này còn xảy ra nhiều, gây thiệt hại rất lớn về tài sản, gây mất an ninh trật tự và an toàn xã hội. Nên cần xử phạt cho nghiêm mới đảm bảo tác dụng  giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Khi lượng hình Tòa án sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Nên giữ nguyên, như Kết luận của Kiểm sát viên.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 250; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Kim D phạm tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Xử phạt Nguyễn Kim D 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đầu chấp hành án.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành.

Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


67
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 13/2018/HS-PT ngày 16/03/2018 về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

      Số hiệu:13/2018/HS-PT
      Cấp xét xử:Phúc thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Cần Thơ
      Lĩnh vực:Hình sự
      Ngày ban hành:16/03/2018
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về