Bản án 13/2018/HS-PT ngày 27/02/2018 về tội gây rối trật tự công cộng

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 13/2018/HS-PT NGÀY 27/02/2018 VỀ TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG 

Ngày 27 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2018/TLPT-HS ngày 25/01/2018 đối với bị cáo Tống Văn T (Q) do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2017/HSST ngày 20/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Bị cáo có kháng cáo:

Tống Văn T (Q), sinh năm 1998, tại An Phú, An Giang; Nơi cư trú: ấp V, xã T, huyện A, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: làm thuê, trình độ văn hóa: không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo Hòa hảo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Tống Văn H, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1961;

Tiền án: không;

Tiền sự: Ngày 15/01/2016 bị Công an xã Vĩnh Trường xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 750.000 đồng, về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.

Bị tạm giam từ ngày 09/10/2017 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

(Trong vụ án, những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 14/7/2017, Tống Văn T sau khi uống rượu ở nhà xong, T cầm khúc gỗ dài 43cm, đường kính 3cm chạy vào trụ sở Công an xã Vĩnh T chửi thề lớn tiếng, xông đến đánh lực lượng Công an xã thì được gia đình can ngăn và giật khúc gỗ trên tay T lại nhưng T vẫn la lối lớn tiếng và có lời lẽ xúc phạm đến lực lượng Công an, T dùng tay đập bể 01 ghế nhựa, đập vỡ kính tủ (tủ dùng để đựng các thủ tục hành chính) đặt phía trước trụ sở Công an, sau khi đập vỡ kính tủ thì tay T bị thương tích nhưng T không đi điều trị mà tiếp tục la lớn tiếng. Sự việc xảy ra khoảng 30 phút thì lực lượng Công an xã Vĩnh T mới khống chế T và giao cho gia đình đưa T đi bệnh viện để điều trị thương tích. Ngày 18/7/2017 Ủy ban nhân dân xã Vĩnh T, huyện A, tỉnh An Giang có công văn gửi đến Cơ quan điều tra – Công an huyện An Phú đề nghị xử lý T về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.

Tại bản Cáo trạng số 46/KSĐT ngày 02/11/2017 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú đã truy tố Tống Văn T (Q) về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm a khoản 2 Điều 245 Bộ luật hình sự.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 54/2017/HSST ngày 20/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang đã quyết định:

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 245 và các Điều 33; Điều 41; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung 2009.

Xử phạt: Bị cáo Tống Văn T (Q) 03 (ba) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 09/10/2017.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng; trách nhiệm dân sự; án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 25/12/2017 bị cáo Tống Văn T có đơn kháng cáo với yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố nhà nước tại phiên tòa phát biểu quan điểm về vụ án và đề xuất với Hội đồng xét xử:

- Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Bị cáo Tống Văn T (Q) kháng cáo trong hạn luật định nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận việc kháng cáo để xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

- Về nội dung: Án sơ thẩm đánh giá đúng tính chất vụ án, xét xử bị cáo Tống Văn T (Q) về tội “Gây rối trật tự công cộng” và tuyên phạt mức án 03 năm tù là đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt nhưng không đưa ra tình tiết nào mới làm cơ sở xem xét cho bị cáo. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tống Văn T (Q), giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện An Phú.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tính đến ngày mở phiên tòa phúc thẩm là ngày 27/02/2018 thì Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018; vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng để xét xử bị cáo Tống Văn T (Q) theo Điều luật mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và giải quyết các vấn đề khác trong cùng một vụ án.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Tống Văn T (Q) khai nhận, sau khi uống rượu bị cáo cầm khúc gỗ chạy vào trụ sở Công an xã Vĩnh T chửi thề và la lớn tiếng, có dùng tay đập bể 01 ghế nhựa, đập vỡ kính tủ trước trụ sở Công an và bị thương tích ở tay, sau đó được đưa đi điều trị. Nay bị cáo thấy cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là nặng nên xin được xem xét giảm nhẹ hình phạt.

[3] Căn cứ vào quy định của pháp luật, hành vi của bị cáo Tống Văn T (Q) đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”, tội phạm được quy định và trừng phạt tại điểm a khoản 2 Điều 245 Bộ luật hình sự năm 2009 (nay là điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh này là có căn cứ.

[4] Xét kháng cáo của bị cáo Tống Văn T (Q) thì thấy: Bị cáo là một người trưởng thành, khỏe mạnh, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo phải biết rõ việc gì nên làm và không nên làm. Chỉ vì nhớ lại trước đó Ch là người cùng xóm đánh bị cáo, khi nghe nói Ch đang ở trong trụ sở công an xã Vĩnh T, bị cáo đã vô cớ cầm hung khí xông vào tìm Ch, đập phá đồ đạc, hung hăng xông đến đánh và có lời lẽ xúc phạm lực lượng công an viên. Hành vi gây rối, phá phách tại trụ sở công an xã Vĩnh T của bị cáo T đã xâm phạm trật tự công cộng, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương cũng như hoạt động bình thường của cơ quan Nhà nước. Nhân thân bị cáo đã có 01 tiền sự về hành vi gây rối trật tự công cộng, bị xử phạt hành chính nhưng bị cáo không chịu sửa chữa sai lầm mà tiếp tục phạm tội. Do vậy, cần có mức hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo mức án 03 năm tù là đúng pháp luật. Mặt khác, tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt nhưng không nêu được tình tiết giảm nhẹ nào mới so với những gì mà cấp sơ thẩm đã xét xử nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét.

[5] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện An Phú như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa hôm nay.

[6] Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Tống Văn T (Q) phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí năm 2015; và điểm b, Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[7] Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tống Văn T (Q) và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 38, Điều 47, điểm p,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Tống Văn T (Q) 03 (ba) năm tù về tội "Gây rối trật tự công cộng". Thời hạn tù tính từ ngày 09/10/2017.

Bị cáo Tống Văn T (Q) phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Các Quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2017/HSST ngày 20/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


113
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về