Bản án 13/2018/HS-ST ngày 22/08/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma  túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 13/2018/HS-ST NGÀY 22/08/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 22 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2018/TLST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2018/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2018, đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh T, sinh ngày 02 tháng 10 năm 1985; nơi sinh: Thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Đường C, phường T, Quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Th và bà Lê Thị B; chưa có vợ con; tiền án: Không, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 16-5-2018, đến ngày 18-5-2018 chuyển tạm giam; có mặt.

Người làm chứng: Anh Phan Văn T

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thanh T là người nghiện ma túy từ năm 2016 đến nay. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 15 giờ ngày 15-5-2018, T đi bộ từ nhà ở đường C, phường T, Quận L đến đường tàu Cát Cụt, Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng với mục đích mua ma túy để sử dụng. Khi đến đường tàu Cát Cụt, T thấy người đàn ông không quen biết, T lại gần hỏi “có ma túy đá bán không”, ngườiđàn ông trả lời là có, T nói “bán cho một triệu năm trăm nghìn đồng”. T đưa cho người đàn ông 1.500.000 đồng, người đàn ông đưa cho T 01 gói nilon bên trong có chứa ma túy. T cho gói ma túy vào vỏ bao thuốc lá Vinataba rồi đi bộ về nhà. Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 16-5-2018, T đón Taxi xuống quận Đồ Sơn chơi mang theo gói ma túy mua từ hôm trước. Khi xe đi đến nhà nghỉ Hoa Biển, thuộc khu III, phường Vạn Hương, quận Đồ Sơn, T xuống xe, đi vào quầy lễ tân thì bị Công an quận Đồ Sơn kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ gói ma túy trong túi quần soóc T đang mặc.

Kết luận giám định số 243/KLGĐ ngày 18-5-2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định thu giữ của T là Methamphetamine, trọng lượng 4,4280 gam.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn đã truy tố; bị cáo nhận biết được việc tàng trữ ma túy là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện với mục đích sử dụng cho bản thân; bị cáo thừa nhận việc bị điều tra, truy tố, xét xử là không oan sai và không bị ép buộc phải khai không đúng sự thật.

Cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 25-7-2018 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn truy tố bị cáo T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng của mình. Do đó, Viện Kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; không có tiền án, tiền sự; bố của bị cáo đã tham gia quân đội. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo T từ 48 đến 54 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền vì điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo khó khăn;

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và điểm a và c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy: 01 phong bi niêm phong chât ma tuy sau giám định và 01 vỏ bao thuôc lá Vinataba để gói ma túy thu đươc cua T;

Về án phí, đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát đã truy tố và luận tội, nhận thức được hành vi của mình là sai trái và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh T và người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

 [2] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình về việc đi mua ma túy, số tiền mua ma túy, việc mang ma túy về và mang ma túy xuống quận Đồ Sơn với mục đích để sử dụng; cũng như việc bị Công an quận Đồ Sơn bắt quả tang cùng vật chứng là 01 gói ma túy ở túi quần soóc bị cáo đang mặc tại nhà nghỉ Hoa Biển, thuộc khu III, phường Vạn Hương, quận Đồ Sơn vào khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 16-5-2018 như nội dung bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.

 [3] Bị cáo T là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ nên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mà mình thực hiện. Hành vi tàng trữ ma túy của T đã xâm phạm đên chê đô quan ly đôc quyên cua Nha nươc vê cac chât ma tuy . Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ ma túy là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện với mục đích để sử dụng cho bản thân. Theo Kết luận giám định số 243/KLGĐ ngày 18-5-2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định thu giữ của T là Methamphetamine, trọng lượng 4,4280 gam.

 [4] Vì vậy, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận, hành vi của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

 [5] Hiện nay, tình hình tôi pham ma tuy trên cả nước nói chung và trên địa bàn quận Đồ Sơn nói riêng diễn biến hết sức phức tạp. Các đối tượng nghiện ma túy thường mang theo ma túy đến quận Đồ Sơn để sử dụng, làm ảnh hưởng đến anh ninh, trật tự trên địa bàn, làm xấu đi hình ảnh du lịch quận. Ma túy là chất gây nghiện đặc biệt nguy hiểm, tàn phá sức khỏe của người sử dụng. Đặc biệt là Methamphetanmine, thường gọi là ma túy đá, người sử dụng dễ bị kích động, thường bị ảo giác, không kiểm soát được cảm xúc và hành vi của mình, xâm hại những người xung quanh một cách vô cớ. Do vậy, cần xử lý nghiêm bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo, nâng cao hiệu quả đấu tranh đối với tội phạm ma túy nói chung trên địa bàn quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.

 [6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

 [7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điêm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

 [8] Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Việc tàng trữ ma túy chỉ để sử dụng riêng cho bị cáo. Hội đồng xét xử cần xem xét những đặc điểm nhân thân này trong quyết định hình phạt đối với bị cáo.

 [9] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

 [10] Về xử lý vật chứng: Chât ma tuy sau giám đ ịnh thu đươc cua b ị cáo là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 01 vỏ bao thuôc lá Vinataba là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, tiêu hủy, theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

 [11] Người đàn ông bán ma túy cho bị cáo T tại khu vực đường tàu Cát Cụt, Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, cơ quan điều tra không xác định được cụ thể tên, tuổi và địa chỉ. Ngoài lời khai của T thì không có chứng cứ nào khác về hành vi bán trái phép chất ma túy của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở lập hồ sơ xử lý trước pháp luật là có căn cứ.

 [12] Về án phí, bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điêm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma  túy.

Xử phạt Nguyễn Thanh T 48 (Bốn mươi tám) tháng tù, thời gian tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 16-5-2018.Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

Tịch thu, tiêu hủy: Chất ma túy sau giám định thu đươc của bị cáo và 01 vỏ bao thuôc lá bị cáo dùng để gói ma túy. Những vật chứng này được thể hiện tại Biên bản bàn giao đồ vật, tài sản bị tạm giữ ngày 25-7-2018, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đồ Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án,

Buộc các bị cáo T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


44
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về