Bản án 13/2018/HSST ngày 24/04/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

BẢN ÁN 13/2018/HSST NGÀY 24/04/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Trong ngày 04 tháng 4 năm 2018 và ngày 24 tháng 4 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2018/HSST ngày 06 tháng 03 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/QĐXXST- HS ngày 23 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Minh M, sinh năm 1980, tại huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp. Tên gọi khác: không có; Nghề nghiệp: Không có; Cư trú: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Chỗ ở hiện nay: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Trình độ học vấn: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Nguyễn Văn S, sinh năm 1936 (còn sống) và bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1952 (còn sống); Vợ: Phan Thị Tuyết M, sinh năm 1993; Con: Có

01 con sinh năm 2016; Anh chị em ruột: có 03 người, bị cáo là người thứ nhất. Hiện bị cáo đang chấp hành án tại trại giam Cao Lãnh, Bộ Công an; Tiền sự: Ngày 04/01/2017 bị Công an huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp xử phạt hành chính số tiền 2.250.000đ về hành vi trộm cắp tài sản và sử dụng trái phép chất ma túy (đã nộp phạt); Tiền án: Ngày 29/09/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm tù giam về tội trộm cắp tài sản, theo khoản 1, Điều 138 Bộ luật hình sự năm1999 sửa đổi bổ sung năm 2009;

Người bị hại:

1. Ông Huỳnh Văn H, sinh năm 1964; (có đơn xin xét xử vắng mặt); Nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Đồng Tháp;

2. Ông Trần Văn P, sinh năm 1989; (có đơn xin xét xử vắng mặt);

Nơi cư trú: Tổ 6, ấp H, xã Ng, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long; Tháp

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Văn Sáu, sinh năm 1936; (vắng mặt);

Nơi cư trú: ấp Hòa Quới, xã Hòa Tân, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ, ngày 30/10/2017, Nguyễn Minh M điều khiển xe gắn máy biển kiểm soát số 64FB-4619, từ nhà chạy theo đường ĐT 854 hướng từ xã Hòa Tân, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp đến xã Nguyễn Văn Thảnh, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long. Khi qua cầu Xẻo Mát khoảng 200 mét, M phát hiện 01 máy trộn bê tông để cạnh hàng rào nhà của ông Huỳnh Văn H, sinh năm 1964, ngụ ấp Hòa Quới, xã Hòa Tân, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp đang dựng ở lề trái bên đường (hướng đi của M) quan sát xung quanh thấy không có người trông coi nên M điều khiển xe gắn máy đậu cạnh máy trộn bê tông, sử dụng chìa khóa mang theo sẵn trên xe mở ốc xung quanh rồi lấy mô tơ nhãn hiệu Út điện cơ 1,5 HP của Huỳnh Văn H để lên xe và tiếp tục chạy về hướng xã Nguyễn Văn Thảnh, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long. Khi điều khiển xe đến ngã tư Rạch Sậy thì rẽ trái, chạy được khoảng 30 mét M phát hiện 01máy trộn bê tông của Trần Văn Phong, sinh năm 1989, ngụ ấp Hòa Thới, xã Nguyễn Văn Thảnh, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long (là thầu xây dựng - hiện đang xây dựng nhà cho Nguyễn Thanh P để trong sân nhà anh Nguyễn Thanh P, sinh năm 1973, ngụ ấp Hòa Thuận, xã Nguyễn Văn Thảnh, huyện Bình Tân, Tỉnh Vĩnh Long, quan sát xung quanh thấy không có người nên M điều khiển xe đậu cạnh máy trộn bê tông và tiếp tục dùng chìa khóa mở các ốc của mô tơ điện gắn với máy trộn bê tông, lấy mô tơ nhãn hiệu Guanglu 0,8KW của Trần Văn Pbỏ vào trong giỏ đệm để phía sau xe, sau đó M tiếp tục điều khiển xe ra hướng huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Khi đi đến khu Công nghiệp Hòa Phú, thuộc huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, M phát hiện 01 xe ô tô tải đang đậu, trên xe không có người nên M định lấy trộm bình ắc quy của xe ô tô tải, nhưngchưa thực hiện thì bị lực lượng Công an xã Hòa Phú tuần tra phát hiện bắt giữNguyễn Minh M.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ phương tiện và các tài sản như sau: 01 xe gắn máy mang biển số 64FB-4619; 01 mô tơ điện nhãn hiệu Guanglu; 01 mô tơ điện nhãn hiệu Út điện cơ; 01 túi xách màu nâu; 05 ống điếu; 09 đầu ống điếu; 01 cây kéo; 17 chìa khóa các loại; 01 cây vít; 02 cây kềm; 02 bậtlửa; 01 thanh kim loại có 02 đầu dẹp; 02 mõ lếch; 01 điện thoại di động nhãn hiệuNokia màu xanh và 01 giỏ xách màu xanh.

Ngày 13/11/2017 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp định giá 01 mô tơ điện nhãn hiệu Út điện cơ 1,5 HP của Huỳnh Văn H trị giá là 1.050.000đ và 01 mô tưa điện nhãn hiệu Guanglu 0,8KW của Trần Văn P trị giá là 660.000đ. Tổng giá trị tài sản trộm là1.710.000đ (Một triệu bảy trăm mười ngàn đồng)

Ngày 30/11/ 2017 Cơ quan Công an đã trao trả lại cho các bị hại Huỳnh Văn H 01 mô tơ điện nhãn hiệu Út điện cơ 1,5 HP và 01 mô tưa điện nhãn hiệu Guavglu 0,8KW cho Trần Văn Phong. Các bị hại nhận lại mô tơ điện và không có yêu cầu gì thêm đối với Nguyễn Minh M.Đối với chiếc xe gắn máy biển kiểm soát số 64FB-4619, 01 túi xách màu nâu, 05 ống điếu, 09 đầu ống điếu, 01 cây kéo, 17 chìa khóa các loại, 01 cây vít, 02 cây kềm, 02 bật lửa, 01 thanh kim loại có 01 đầu dẹp, 02 mỏ lếch, 01 giỏ xách màu xanh là tài sản ông Nguyễn Văn S (cha ruột của Nguyễn Minh M)vào đêm 30/10/2017 Nguyễn Minh M lấy xe gắn máy và các dụng cụ này của ông Sáu làm phương tiện, công cụ đi trộm tài sản của người khác ông Sáu không biết nên trao trả lại cho ông Nguyễn Văn Sáu các loại tài sản này.

Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh là tài sản của Nguyễn Minh M qua điều tra thấy không liên quan đến hành vi phạm tội của M nên trả lại cho Nguyễn Minh M nhưng giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành quản lý để đảm bảo thi hành án.

Tại bản cáo trạng số 07/CT-VKS ngày 26/02/2018, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh M về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân huyện Châu Thành trong phần tranh luận đã thay đổi áp dụng pháp luật, truy tố và đề nghị:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh M về tội Trộm cắp tài sản với mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại Huỳnh Văn H và Trần Văn P đã nhận lại mô tơ bị mất và không có yêu cầu gì thêm đối với Nguyễn Minh M nên không xem xét.

Về xử lý tang vật: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:

-Trả lại cho ông Nguyễn Văn Sáu 01 chiếc xe gắn máy biển kiểm soát số 64FB-4619, 01 túi xách màu nâu, 05 ống điếu, 09 đầu ống điếu, 01 cây kéo,17 chìa khóa các loại, 01 cây vít, 02 cây kềm, 02 bật lửa, 01 thanh kim loại có 01 đầu dẹp, 02 mỏ lếch, 01 giỏ xách màu xanh.

-Trả lại cho Nguyễn Minh M 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh nhưng giao cho Chi cục Thi hành án huyện Châu Thành quản lý để đảmbảo thi hành án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1] Nguyễn Minh M có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản vào ngày 29/9/2017 trong thời gian chờ thi hành án thì vào khoảng 22 giờ ngày 30/10/2017, lợi dụng trong lúc đêm khuya vắng người Nguyễn Minh M lén lút lấy trộm 02 mô tơ điện gắn trong các máy trộn bê tông của anh Huỳnh Văn H và anh Trần Văn Pcó trị giá 1.710.000đ mục đích bán lấy tiền tiêu xài. Sau đó bị cáo M đến khu Công nghiệp Hòa Phú, thuộc huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long định lấy trộm bình ắc quy của xe ô tô tải, nhưng chưa thực hiện, thì bị lực lượng Công an xã Hòa Phú tuần tra phát hiện bắt giữ.

 [2] Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trước ngày Bộ luật hình sự năm 2015 có hiệu lực. Tuy nhiên, tội Trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 có mức hình phạt cao nhất là tù chung thân, so với quy định về tội Trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 có mức hình phạt cao nhất là 20 năm tù thì áp dụng Bộ luật hình sự năm 2015 có lợi cho bị cáo. Do đó, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tại phiên tòa đề nghị áp dụngkhoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 truy tố bị cáo là đúng quy định của Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về hướng dẫn thi hành Bộ luật hình sự năm 2015.

Như vậy có đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Minh M phạm tội Trộm cắp tài sản được quy định tại điểm b khản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015:

 “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường H sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

….b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;”...

 [3] Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Minh M thực hiện đã hoàn thành, khi phạm tội bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nếu bị phát hiện sẽ bị xử lý nhưng vì động cơ tư lợi, muốn có tiền để mua ma túy sử dụng, do đó bị cáo M liên tục thực hiện hành vi phạm tội. Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo M làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm cho quần chúng nhân dân không yên tâm trong lao động, sinh hoạt. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo M nhận tội, không tranh luận, không bào chữa. Xét thấy, cáo trạng truy tố của Viện Kiểm sát Nhân dân huyện Châu Thành và phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử lý nghiêm, bắt bị cáo M phải cách ly xã hội một thời gian để có điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, tôn trọng tài sản của người khác.

 [4] Bị cáo Nguyễn Minh M đang chấp hành án phạt tù tại bản án số 43/2017/HSST ngày 29/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, HĐXX xét thấy cần áp dụng Điều 56, Bộ luật hình sự năm 2015 tổng H hình phạt với bản án hiện tại theo quy định của pháp luật.

 [5] Về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải vì vậy hội đồng xét xử nghĩ nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự ăm 2015 giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Về tình tiết tăng nặng: Không.

 [6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại Huỳnh Văn H và Trần Văn Pđã nhận lại mô tơ bị mất và không có yêu cầu gì thêm đối với Nguyễn Minh M nên không xem xét.

[7] Về xử lý vật cứng: Trả lại cho ông Nguyễn Văn S 01 chiếc xe gắn máy biển kiểm soát số 64FB-4619, 01 túi xách màu nâu, 05 ống điếu, 09 đầu ống điếu, 01 cây kéo,17 chìa khóa các loại, 01 cây vít, 02 cây kềm, 02 bật lửa,

01 thanh kim loại có 01 đầu dẹp, 02 mỏ lếch, 01 giỏ xách màu xanh.Trả lại cho Nguyễn Minh M 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh nhưng giao cho Chi cục Thi hành án huyện Châu Thành quản lý để đảm bảo thi hành án.

 [8] Bị cáo Nguyễn Minh M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh M phạm tội Trộm cắp tài sản . Áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 173 và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh M, 01 (Một) năm tù.

Áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015;

Tổng H hình phạt với bản án số 43/2017/HSST ngày 29/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh M, 01 (Một) năm tù. Bị cáo Nguyễn Minh M phải chấp hành hình phạt chung là 02 (Hai) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Trả lại cho ông Nguyễn Văn S 01 chiếc xe gắn máy biển kiểm soát số 64FB-4619, 01 túi xách màu nâu, 05 ống điếu, 09 đầu ống điếu, 01 cây kéo, 17 chìa khóa các loại, 01 cây vít, 02 cây kềm, 02 bật lửa, 01 thanh kim loại có 01 đầu dẹp, 02 mỏ lếch, 01 giỏ xách màu xanh.

Tiếp tục quản lý của bị cáo Nguyễn Minh M 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh để đảm bảo thi hành án. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành quản lý.

Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Nguyễn Minh M nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay bị cáo Nguyễn Minh M được quyền kháng cáo lên Tòa án Nhân dân Tỉnh Đồng Tháp. Riêng người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án Nhân dân Tỉnh Đồng Tháp trong hạn 15 ngày kể từ tống đạt bản án H lệ.


43
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về