Bản án 13/2018/KDTM-ST ngày 30/11/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 13/2018/KDTM-ST NGÀY 30/11/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 30 tháng 11 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số: 64/2018/TLST - KDTM ngày 16 tháng 7 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2018/QĐXXST - KDTM ngày 25 tháng 10 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2018/ QĐST - KDTM ngày 12/11/2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á

Địa chỉ trụ sở: số 117 Quang Trung, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An .

Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn :

Bà Thái H - Tổng giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn :

Ông Nguyễn Thanh T - Tổng giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Quản lý nợ và khai thác tài sản - Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á.

(Theo Giấy uỷ quyền số: 284/UQ-BAC A BANK ngày 22/11/2017 của Tổng Giám Đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á).

Người được ông T ủy quyền lại:

Ông Hứa Trần Khắc Đ - Chuyên viên xử lý nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á.

(Theo Giấy uỷ quyền số: 295/2017//UQ-TGĐ ngày 28/11/2017 của Tổng giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Quản lý nợ và khai thác tài sản - Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á).

Có mặt tại phiên tòa

2. Bị đơn:

1. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1979

Địa chỉ: Xóm G, xã C, huyện Đ, Thành phố Hà Nội

Vắng mặt tại phiên tòa

2. Bà Phạm Thị Thu H, sinh năm 1987

Địa chỉ: Tổ 37 thị trấn Đ, huyện Đ, Thành phố Hà Nội.

Vắng mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN

[1]. Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 22/6/2012 ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị Thu H cùng Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á - Chi nhánh Hàng Đậu đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 0017353/HĐTD - BacABank. Theo hợp đồng này, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á cho ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị Thu H vay 1.300.000.000 (một tỷ ba trăm triệu) đồng); Thời hạn vay: 12 tháng (kể từ ngày 22/6/2012 đến 22/6/2013); Lãi suất cho vay (trong hạn): 21,8%/năm theo quy định của Ngân hàng TMCP Bắc Á tại thời điểm giải ngân; Lãi suất cho vay được điều chỉnh 03 tháng/lần tính từ ngày ký Khế ước nhận nợ; Lãi suất gia hạn không vượt quá 120% lãi suất trong hạn đang áp dụng tại thời điểm xin c ơ cấu lại thời hạn trả nợ ; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn đang áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; Phạt chậm trả lãi: 0,1%/ngày/số tiền lãi chậm trả; Trả nợ gốc: cuối kỳ; Trả nợ lãi: Trả lãi hàng tháng (từ ngày 25 đến ngày cuối cùng trong tháng). Mục đích vay: góp vốn kinh doanh.

Để bảo đảm cho khoản vay trên, ngày 26/7/2011, ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị Thu H đã ký “Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất”, số công chứng: 02350.11 quyển số 07/TP/CC-SCC/HĐGD và Phụ lục Hợp đồng thế chấp ngày 21/6/2012, số công chứng 01874, quyển số 06 TP/CC-SCC/HĐGD với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á - Chi nhánh Hàng Đậu tại Văn phòng công chứng Vạn Xuân, Thành phố Hà Nội. Việc thế chấp nêu trên đã được đăng ký giao dịch đảm bảo tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội ngày 04/8/2011

Theo đó, ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị Thu H thế chấp cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á - Chi nhánh Hàng Đậu tài sản là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 17, tờ bản đồ số 5 5, địa chỉ: Khu vực 382 xã Uy , huyện Đ, TP Hà Nội theo “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số BG 502957, Số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 2283.QĐ-UBND.2011 CH.00514.2011 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, Thành phố Hà Nội cấp ngày 01/7/2011 đứng tên ông Nguyễn Văn H.

Thực hiện hợp đồng tín dụng nêu trên, Ngân hàng Thương mại cổ phần Bắc Á - Chi nhánh Hàng Đậu đã giải ngân đủ cho ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị Thu H số tiền là 1.300.000.000 đồng (theo Khế ước nhận nợ ngày 22/06/2012, có chữ ký xác nhận của ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị Thu H).

Tính đến ngày 26/12/2012, ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị Thu Hu mới chỉ trả được cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Bắc Á 132.459.167 đồng tiền lãi, từ đó đến nay ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị Thu H chưa trả được tiền gốc và tiền lãi phát sinh.

Tạm tính đến ngày 22/10/2018, ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị Thu H còn nợ Ngân hàng Thương mại cổ phần Bắc Á số tiền như sau: Nợ gốc: 1.300.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 269.208.333 đồng; Nợ lãi quá hạn: 1.596.725.000 đồng. Tổng cộng: 3.165.933.333 đồng.

* Tại phiên tòa, đại diện Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á đề nghị Toà án nhân dân huyện Đông Anh giải quyết:

1. Yêu cầu ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị Thu H thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á toàn bộ số tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng số 0017353/HĐTD - BacABank ngày 22/6/2012, tính đến hết ngày 22/10/2018 là: 3.165.933.333 đồng. Trong đó, nợ gốc: 1.300.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 269.208.333 đồng; Nợ lãi quá hạn: 1.596.725.000 đồng; Và tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc kể từ ngày 23/10/2018 cho đến khi ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị Thu H thanh toán hết nợ cho Ngân hàng.

2. Trường hợp ông Nguyễn Văn H, bà Phạm Thị Thu H không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 17 tờ bản đồ số 55, tại địa chỉ: Khu vực 382 xã U, huyện Đ, Thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng , quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 502957, số vào sổ cấp giấy chứng nhận 2283.QĐ -UBND.2011 CH.00514.2011 do Uỷ ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 01/7/2011 cho ông Nguyễn Văn H.

3. Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mại/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Nguyễn Văn H, bà Phạm Thị Thu H với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á đối với các khoản nợ nêu trên. Nếu số tiền thu được từ việc phát mại/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị Thu H còn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả hết nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á.

4. Toàn bộ tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được ưu tiên thanh toán trước vào nợ gốc, tiếp đến trừ vào nợ lãi trong hạn và cuối cùng sẽ trừ vào nợ lãi quá hạn.

Về án phí: ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị Thu H phải chịu theo quy định của pháp luật.

[2]. Quan điểm của bị đơn:

Tại bản tự khai, Biên bản hòa giải, bà Phạm Thị Thu H trình bày: Bà hoàn toàn nhất trí với phần trình bày của đại diện Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á về việc ngày 22/6/2012, bà và ông Nguyễn Văn H đã ký Hợp đồng tín dụng số 0017353/HĐTD-BacABank với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á - Chi nhánh Hàng Đậu để vay: 1.300.000.000 (một tỷ ba trăm triệu) đồng để góp vốn kinh doanh. Khi đó bà và ông Nguyễn Văn H còn là vợ chồng (ông bà đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly h ôn của Toà án nhân dân huyện Đông Anh ngày 29/8/2017).

Để bảo đảm cho khoản vay trên, ngày 26/7/2011, bà và ông Nguyễn Văn H đã ký “Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất”, số công chứng: 02350.11 quyển số 07/TP/CC-SCC/HĐGD và Phụ lục Hợp đồng thế chấp ngày 21/6/2012, số công chứng 01874, quyển số 06 TP/CC-SCC/HĐGD với Ngân hàng TMCP Bắc Á - Chi nhánh Hàng Đậu tại Văn phòng công chứng Vạn Xuân, thành phố Hà Nội. Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 17, tờ bản đồ số 55, địa chỉ: Khu vực 382 xã U, huyện Đ, TP Hà Nội theo “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số BG 502957, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 2283.QĐ- UBND.2011 CH.00514.2011 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, thành phố Hà Nội cấp ngày 01/7/2011 đứng tên Nguyễn Văn H. Việc thế chấp đã được đăng ký giao dịch đảm bảo tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Đ, Thành phố Hà Nội ngày 04/8/2011

Từ sau khi vay vốn Ngân hàng, do công việc làm ăn của ông H gặp nhiều khó khăn nên ông bà mới chỉ trả được 132.459.167 đồng tiền lãi tính đến ngày 26/12/2012, từ đó đến nay không trả nữa. Bà cũng xác nhận bà và ông H còn nợ Ngân hàng số tiền như đại diện của Ngân hàng trình bày.

Việc ký kết Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp mà bà và ông Nguyễn Văn H để vay vốn của Ngân hàng là hoàn toàn tự nguyện, thủ tục ký kết được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Bà và ông Nguyễn Văn H cũng không có yêu cầu phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà và ông Nguyễn Văn H trả Ngân hàng toàn bộ số tiền trên, nếu không sẽ phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ thì bà cũng đồng ý và nhất trí bàn giao tài sản bảo đảm để Ngân hàng phát mại thu hồi nợ. Nếu số tiền thu được không đủ để trả nợ thì bà đề nghị Ngân hàng miễn cho bà và ông H toàn bộ số nợ còn lại vì hiện nay bà và ông H không thể có khả năng để trả nợ cho Ngân hàng.

Bà H xác nhận: Nguồn gốc thửa đất đã thế chấp cho Ngân hàng là do bà và ông H nhận chuyển nhượng lại của bà Trần Thị Kim O. Kể từ thời điểm nhận chuyển nhượng cho đến nay thì trên đất không có nhà cửa gì và không có ai sinh sống trên đất.

Tại biên bản ghi lời kai của ông Nguyễn Văn H thể hiện quan điểm nhất trí với phần trình bày của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và của bà Phạm Thị Thu H. Ông xác định hiện nay ông và bà Phạm Thị Thu H đã ly hôn và không còn khả năng trả nợ cho Ngân hàng nên ông đồng ý bàn giao tài sản thế chấp để Ngân hàng phát mại thu hồi nợ. Nếu số tiền thu được không đủ để trả nợ thì ông đề nghị Ngân hàng miễm cho ông và bà Phạm Thị Thu H toàn bộ số tiền còn thiếu.

[3]. Tại phiên tòa, Đại diện Viên kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật Tố tụng dân sự của người tham gia tố tụng, của Thẩm phán và của Hội đồng xét xử. Đồng thời đề nghị Hội đồng x ét xử chấp nhậnyêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ; căn cứ kết quả thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa; căn cứ việc hỏi tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật :

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á có đăng ký kinh doanh số 2900325526 do Sở Kế hoạch đầu tư tỉnh Nghệ An cấp lần đầu ngày 10/10/1995, thay đổi lần thứ 28 ngày 27/4/2016, địa chỉ trụ sở chính tại: Số 117 đường Quang Trung, phường Quang Trung, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An do bà Thái H - Tổng giám đốc, là người đại diện theo pháp luật.

Bị đơn là bà Phạm Thị Thu H và ông Nguyễn Văn H cùng trú tại: huyện Đ, thành phố Hà Nội, vay vốn nhằm mục đích góp vốn vào Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sản xuất và Đầu Tư Thương Mại Hồng Hà.

Như vậy, cả hai bên đều đủ tư cách và có quyền ký kết, thực hiện các hợp đồng kinh doanh thương mại và tham gia tố tụng để giải quyết tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng đã ký kết. Tòa án nhân dân huyện Đông Anh thụ lý và giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp quy định tại Điều 29, Điều 33 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự

[2]. Về việc xét xử vắng mặt đương sự:

Tòa án nhân dân huyện Đông Anh đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa cho các đương sự, nhưng ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị Thu H vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.

Do vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị Thu H là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 199 và khoản 1 Điều 202 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3]. Xét yêu cầu của nguyên đơn:

Ngày 22/6/2012 Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á cùng bà Phạm Thị Thu H và ông Nguyễn Văn H ký kết Hợp đồng tín dụng số 0017353/HĐTD - BacABank, cụ thể như sau:

Số tiền vay: 1.300.000.000 (một tỷ, ba trăm triệu) đồng 

Mục đích vay: Góp vốn kinh doanh.

Thời hạn vay: 12 tháng; Lãi suất cho vay: 21,8%/năm; Lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn đang áp dụng tại thời điểm cơ cấu lại thời hạn trả nợ.

Cùng ngày Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á đã giải ngân, bà Phạm Thị Thu H và ông Nguyễn Văn H đã nhận đủ số tiền vay theo khế ước nhận nợ số 0017353 ngày 22/6/2012.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á yêu cầu bà Phạm Thị Thu H và ông Nguyễn Văn H phải trả tổng số nợ tính đến hết ngày ngày 22/10/2018 là 3.165.933.333 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 1.300.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 269.208.333 đồng; Nợ lãi quá hạn: 1.596.725.000 đồng.

Tại Bản tự khai và biên bản hòa giải bà Phạm Thị Thu H nhất trí với phần trình bày của người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á về việc yêu cầu bà và ông Nguyễn Văn H phải trả tổng số tiền là 3.165.933.333 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 1.300.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 269.208.333 đồng; Nợ lãi quá hạn: 1.596.725.000 đồng . Đồng thời bà cũng nhất trí về cách tính lãi quá hạn và đồng ý bàn giao tài sản đảm bảo là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 17, tờ bản đồ số 55, địa chỉ: Khu vực 382 xã U, huyện Đ, TP Hà Nội theo “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số BG 502957, Số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 2283.QĐ-UBND.2011 CH.00514.2011 do UBND huyện Đ, thành phố Hà Nội cấp ngày 01/7/2011 đứng tên Nguyễn Văn H cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á để phát mại thu hồi nợ cho Ngân hàng.

Tại biên bản ghi lời khai của ông Nguyễn Văn H thể hiện quan điểm nhất trí với phần trình bày về toàn bộ nội dung yêu cầu khởi k iện của nguyên đơn và của bà Phạm Thị Thu H.

Xét thấy yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á buộc ông H, bà H phải trả tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi theo Hợp đồng tín dụng số 0017353/HĐTD - BacABank ngày 22/6/2012 là hoàn toàn phù hợp với cách tính tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn theo hợp đồng tín dụng; Phù hợp với quy định tại của Luật Các tổ chức tín dụng và phù hợp với Điều 474 của Bộ luật dân sự, nên yêu cầu này của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á được chấp nhận.

Do vậy buộc ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị Thu H phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á tổng số tiền là 3.165.933.333 (ba tỷ, một trăm sáu mươi lăm triệu, chín trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm ba mươi ba) đồng tính đến hết ngày 22/10/2018. Do ông H bà H đã ly hôn nên kỷ phần của mỗi người phải trả là 1.582.966.666 (một tỷ, năm trăm tám mươi hai triệu, chín trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi sáu) đồng.

Kể từ ngày 23/10/2018 ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị Thu H, mỗi người còn phải tiếp tục trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á, 1/2 khoản tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc 1.300.000.000 đồng với mức lãi suất theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 0017353/HĐTD - BacABank ngày 22/6/2012.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị Thu H không trả đủ các khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 17, t ờ bản đồ số 55, địa chỉ: Khu vực 382 xã U, huyện Đ, TP Hà Nội theo “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số BG 502957, Số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 2283.QĐ-UBND.2011 CH.00514.2011 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, thành phố Hà Nội cấp ngày 01/7/2011 đứng tên Nguyễn Văn H để thu hồi nợ.

Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm được thanh toán theo thứ tự: trừ vào nợ gốc, sau đó đến lãi trong hạn rồi mới đến lãi quá hạn.

Trong trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả hết các khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á, thì ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị Thu H còn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả hết các khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á tương ứng với kỷ phần của mỗi người là 1/2 số nợ gốc.

[4]. Về án phí kinh doanh thương mại:

Do yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á được chấp nhận nên ông Nguyễn Văn H, bà Phạm Thị Thu H phải chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật là 118.978.000 đồng. Ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị Thu H, mồi người phải chịu 1/2 = 59.489.000 đồng.

Trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á số tiền tạm ứng án phí 48711.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016/0001633 ngày 13/7/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh.

[5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Điều 299; Điều 323; Điều 466; Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

- Luật Các tổ chức tín dụng.

- Khoản 1 Điều 30; Điểm b khoản 1 Điều 35; Điều 39 ; Điều 144; Điều 147; khoản 3 Điều 159; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHK14 ngày 30/12/2017 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

 Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á đối với ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị Thu H.

2. Buộc ông Nguyễn Văn H phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á 1/2 số tiền nợ tạm tính đến hết ngày 22/10/2018 là 1.582.966.666 (một tỷ, năm trăm tám mươi hai triệu, chín trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi sáu) đồng.

3. Buộc bà Phạm Thị Thu H phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á 1/2 số tiền nợ tạm tính đến hết ngày 22/10/2018 là 1.582.966.666 (một tỷ, năm trăm tám mươi hai triệu, chín trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi sáu) đồng.

4. Kể từ ngày 23/10/2018 ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị Thu H, mỗi người còn phải tiếp tục trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á, 1/2 khoản tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc 1.300.000.000 đồng với mức lãi suất theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 0017353/HĐTD - BacABank ngày 22/6/2012.

Nếu ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị Thu H không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ các khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 17 , tờ bản đồ số 55, địa chỉ: Khu vực 382 xã U, huyện Đ, Thành phố Hà Nội theo “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số BG 502957, Số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 2283.QĐ-UBND.2011 CH.00514.2011 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, Thành phố Hà Nội cấp ngày 01/7/2011 đứng tên ông Nguyễn Văn H để thu hồi nợ. Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm được thanh toán theo thứ tự: trừ vào nợ gốc, sau đó đến lãi trong hạn rồi mới đến lãi quá hạn.

Trong trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả hết các khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á, thì ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị Thu H còn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả hết các khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á tương ứng với kỷ phần của mỗi người là 1/2 số nợ gốc.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

5. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

- Ông Nguyễn Văn H phải chịu 59.489.000 (năm mươi chín triệu, bốn trăm tám mươi chín nghìn) đồng.

- Bà Phạm Thị Thu H phải chịu 59.489.000 (năm mươi chín triệu, bốn trăm tám mươi chín nghìn) đồng.

- Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á số tiền 48.711.000 (bốn mươi tám triệu, bảy trăm mười một nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016/0001633 ngày 13/7/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh.

6. Về quyền kháng cáo:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị Thu H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.


47
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 13/2018/KDTM-ST ngày 30/11/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:13/2018/KDTM-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đông Anh - Hà Nội
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành:30/11/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về