Bản án 135/2016/DS-PT ngày 08/07/2016 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất; đòi nhà cho ở nhờ; hợp đồng mua bán nhà ở và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG

BẢN ÁN 135/2016/DS-PT NGÀY 08/07/2016 VỀ VIỆC TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, ĐÒI NHÀ CHO Ở NHỜ, HỢP ĐỒNG MUA BÁN NHÀ Ở VÀ YÊU CẦU HỦY GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 

Ngày 08 tháng 7 năm 2016, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang công khai xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số 110/2016/TLPT-DS ngày 11 tháng 5 năm 2016, và việc "Tranh chp QSDĐ; đòi nhà cho ở nhờ; Hợp đồng mua bán nhà và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền s dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 07/2016/DS-ST ngày 25/02/2016 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 184A/2016/QĐ-PT ngày 28 tháng 6 năm 2016 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc Thu Thủy

Địa chỉ: Số 55, ấp Thị Tứ, thị trấn Rạch Gòi, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang

2. Bị đơn:

- Bà Nguyễn Ngọc Thùy

- Bà Nguyễn Ngọc Thảo

Cùng địa chỉ: Số 55, ấp Thị Tứ, thị trấn Rạch Gòi, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoàng Triệu

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Văn Muôn - Chức vụ: Phó trưởng phòng tài nguyên và môi trường huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

(Theo giấy ủy quyền ngày 29/01/2016)

- Bà Đặng Thị Phấn

- Ông Đặng Văn Út.

- Đặng Ngọc Minh Thức

Cùng địa chỉ: Ấp Nhơn Thuận 1A, thị trấn Rạch Gòi, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

- Bà Đặng Ngọc Mai Thi

- Bà Nguyễn Ngọc Thẩm

Địa chỉ: Số 105, ấp Thị Tứ, thị trấn Rạch Gòi, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

- Ông Nguyễn Ngọc Thường

- Ông Huỳnh Văn Hùng

- Bà Huỳnh Ngọc Trúc Phương

- Ông Trần Nam Định

- Ông Nguyễn Văn Hậu (ủy quyền cho bà Nguyễn Ngọc Thu Thủy)

- Ông Nguyễn Ngọc Công Hữu

Cùng địa chỉ: ấp thị tứ, thị trấn Rạch Gòi, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

- Ông Nguyễn Ngọc Thuấn

Địa chỉ: Số 278/32/6D, đường Tầm Vu, phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều. thành phố Cần Thơ.

- Ông Nguyễn Ngọc Thanh

Địa chỉ: Số 14/27, đường Nguyễn Văn Lượng, phường 6, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh.

Người kháng cáo: Bà Nguyễn Ngọc Thu Thủy và bà Đặng Thị Phấn.

NHẬN THẤY

Theo án sơ thm và các tài liệu, có trong hồ sơ thì nội dung vụ án như sau:

Bà Nguyễn Ngọc Thu Thủy trình bày: Nguồn gốc nhà và đất tranh chấp là của cha mẹ bà tạo lập. Cha tên Nguyễn Ngọc Thuần (Chết năm 1982), không có giấy chứng tử, không có di chúc, mẹ là Đặng Thị Phấn V tài sản cha mẹ tạo lập ngoài căn nhà phần đất tranh chấp số 55, ấp Thị Tứ, thị trấn Rạch Gòi, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang (nhà cũ số 32) (sau đây gọi tắt là căn nhà số 55), còn có phần đất vườn và ruộng khoảng 10 công tọa lạc cùng ấp cũng do mẹ Đặng Thị Phấn đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện do Nguyễn Ngọc Thẩm quản lý, sử dụng. Vào ngày 10/6/2007, bà Phấn có bán căn nhà trên với số tiền 550.000.000 đồng cho bà Thủy, bà đã thanh toán toàn bộ số tiền 550.000.000 đồng cho bà Phấn, thông qua ông Nguyễn Ngọc Thanh. Nay bà Thủy đã được Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00087 ngày 14/01/2008. Vì là tình nghĩa chị em và cũng theo thỏa thuận khi mua bán nên sau khi mua vẫn cho em là Nguyễn Ngọc Thùy và Nguyễn Ngọc Thảo ở nhờ và buôn bán chung trong căn nhá. Nhưng gần đây xảy ra nhiều mâu thuẫn gay gắt nên bà Thủy khởi kiện yêu cầu mẹ là bà Đặng Thị Phấn cùng bà Nguyễn Ngọc Thảo, bà Nguyễn Ngọc Thùy phải di dời đi nơi khác, trả lại căn nhà cho bà và bà đồng ý hỗ trợ cho mỗi người 10.000.000 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án bà Thủy xác định lại yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu bà Nguyễn Ngọc Thùy, bà Nguyễn Ngọc Thảo phải dời ra khỏi nhà con đối với bà Phấn vẫn cho ở và sẽ nuôi dưỡng, thờ cúng nhưng cam kết trong biên bản họp gia đình.

Bà Nguyễn Ngọc Thùy và bà Nguyễn Ngọc Thảo có đơn phản tố: Các bị đơn thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về nguồn gốc nhà và đất tranh chấp. Về khối tài sản trên vào ngày 01/6/2005. bà Phấn và 08 anh chị em đã họp gia tộc xác định đây là tài sản chung của 09 người bao gồm mẹ là bà Đặng Thị Phấn và các con gồm: Nguyễn Ngọc Thuấn, Nguyễn Ngọc Thúy, Nguyễn Ngọc Thanh, Nguyễn Ngọc Thảo, Nguyễn Ngọc Thẩm, Nguyễn Ngọc Thường, Nguyễn Ngọc Thu Thủy, Nguyễn Ngọc Thùy. Việc thỏa thuận này có lập thành văn bản tất cả đều ký tên. Đến ngày 10/6/2007, họp mặt gia đình không có bà Thẩm, ông Thuấn dự. Bà Phấn và 06 anh chị em đồng ý bán căn nhà số 55 mà bà Thùy và bà Thảo cùng chồng con đang ở với giá 500.000.000 đồng. Bà Phấn, bà Thảo, bà Thùy chấp nhận để cho bà Thủy hưởng căn nhà nêu trên với giá rẻ hơn so với thực tế vì bà Thủy có hứa đảm bảo các điều kiện sau đây:

- Một là bà Thủy có trách nhiệm nuôi dưỡng, phụng dưỡng mẹ là bà Phấn và thờ cúng ông bà;

- Hai là bà Thùy, bà Thảo chưa có chỗ ở. Được quyền ở lại căn nhà cho đến khi có khả năng ra riêng mà không đòi hỏi bất cứ quyền lợi nào khác.

Sau khi bán căn nhà và đất bà Thủy có giao cho bà Phấn 100.000.000 đồng để bà Phấn trả tiền sửa chữa nhà cho Nguyễn Ngọc Thường, còn lại 400.000.000 đồng bà Thủy không trả và không thực hiện các thỏa thuận khác tại buổi họp mặt gia đình. Sau đó, bà Thủy chở bà Phấn ra UBND thị trấn Rạch Gòi kêu bà Phấn ký tên vào hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất rồi bà Thủy làm thủ tục sang tên cho bà Thủy. Đến nay bà Thủy vẫn không trả bà Phấn 400.000.000 đồng, không thực hiện các nghĩa vụ khác theo tờ họp mặt gia đình mà còn kiện yêu cầu bà Thùy ra khỏi nhà trong lúc không có chỗ ở khác nên bà Thùy, bà Thảo yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00087 do bà Thủy đứng tên.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu độc lập bà Đặng Thị Phấn trình bày:

Bà Phấn thống nhất lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn về nguồn gốc đất và nhà tranh chấp và việc mua bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/6/2007 là đúng. Tuy nhiên, về giá bán căn nhà và đất: Bà Phấn trình bày chỉ bán cho bà Thủy với giá 500.000.000 đồng, nhưng bà Thủy ghi 550.000.000 đồng là do bà Phấn nghe bà Thủy nói lại đã đưa cho ông Thanh 50.000.000 đồng để làm giấy tờ nên bà Thủy tự ghi giá mua bán là 550.000.000 đồng. Trên thực tế, giá trị căn nhà vào thời điểm đó có giá khoảng 1.500.000.000 đồng, bà chấp nhận cho bà Thủy hưởng căn nhà với giá trên vì bà Thủy hứa bảo đảm các điều kiện như trình bày của các bị đơn Nguyễn Ngọc Thùy, Nguyễn Ngọc Thảo. Sau khi bán nhà và đất, ông Thường có đến đòi số tiền 100.000.000 đồng, do ông Thường và bà Phấn có thỏa thuận là sau khi bán nhà bà Phấn phải trả lại số tiền ông Thường bỏ ra sửa chữa nhà trước khi bán cho bà Thủy. Bà Phấn không có tiền nến bà Thủy có giao 100.000.000 đồng cho ông Thường, bà Phấn thừa nhận trả cho ông Thường cũng là khoản tiền thanh toán hợp đồng bán nhà chứ bà Phấn không có nhận bất kỳ khoản tiền nào từ bà Thủy. Đối với 400.000.000 đồng còn lại bà Thủy không trả theo thỏa thuận, mà có thái độ hắt hủi, không lo lắng gì cho bà kể cả ăn uống, ốm đau mà còn đuổi bà cùng các con ra khỏi nhà trong lúc Nguyễn Ngọc Thùy, Nguyễn Ngọc Thảo không có chỗ ở. Bà Phấn yêu cầu hủy bỏ văn bản họp mặt gia đình ngày 10/6/2007; hủy bỏ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà và bà Thủy; hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00087 do bà Thủy đứng tên, giao lại căn nhà số 55 cho bà quản lý. Bà không có yêu cầu ông Thường trả lại số tiền 100.000.000 đồng.

Trong đơn yêu cầu độc lập ngày 16/10/2013, ngày 20/10/201 5 và quá trình tố tụng tại tòa án người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Ngọc Thẩm trình bày: Bà thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, người có liên quan về nguồn gốc nhà và đất tranh chấp. Về tài sản đang tranh chấp bà Thẩm xác định là tài sản chung của chín người bao gồm bà Phấn và 08 anh chị em theo biên bản họp gia đình 01/6/2005". Còn các biên bản ngày 17/9/2005 và 15/12/2005 bà không đồng ý vì bà không có ký tên. Việc mẹ và các anh chị em thỏa thuận bán căn nhà cho bà Thủy bà không biết vì không có ai cho hay nên bà không thống nhất nội dung văn bản họp mặt gia đình ngày 10/6/2007. Bà Thẩm yêu cầu hủy văn bản “hợp mặt gia đình” ngày 10/6/2007, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00087 do bà Thủy đứng tên, buộc bà Thủy trả lại căn nhà cho mẹ là Đặng Thị Phấn. Tại đơn yêu cầu độc lập bà Thẩm có trình bày yêu cầu được hưởng phần quyền sở hữu của mình trong khối tài sản chung. Tại phiên tòa, bà Thẩm xác định không có yêu cầu chia tài sản chung, bởi vì bà có cam kết khi nào bà Phấn qua đời mới yêu cầu chia tài sản chung;

Trong đơn yêu cầu độc lập ngày 10/6/2013, ngày 20/10/2015 và quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc Thuấn trình bày:

Ông thống nhất lời trình bày của nguyên đơn về nguồn gốc căn nhà và đất tranh chấp. Căn nhà tranh chấp là tài sản chung của 09 người bao gồm bà Phấn và 08 anh chị em theo biên bản họp gia đình 01/6/2005 chứ không phải tài sản riêng của mẹ. Việc mẹ và các anh chị em thỏa thuận bán căn nhà cho bà Thủy thì ông không biết. Ông Thuấn yêu cầu hủy văn bản “hợp mặt gia đình” ngày 10/6/2007, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00087 do Thủy đứng tên, buộc bà Thủy trả lại căn nhà cho mẹ và anh em có nơi ở ổn định và thờ cúng ông bà.

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án trình bày như sau:

Ông Đặng Văn Út (chồng bà Thúy chết vào năm 2010) trình bày: Giữa ông và bà Thúy có 02 người con là Đặng Ngọc Minh Thức và Đặng Ngọc Mai Thi. Đối với việc tranh chấp căn nhà số 55 là tài sản của cha mẹ vợ tạo lập. Sau khi cha vợ chết, mẹ vợ và các anh em của vợ ông có họp gia đình thống nhất xác định đây là tài sản chung và ông không có yêu cầu gì trong vụ án này.

Bà Đặng Ngọc Mai Thi (con của bà Nguyễn Ngọc Thúy) trình bày: Thống nhất với nguyên đơn, bị đơn, người có liên quan về nguồn gốc căn nhà số 55 và đất tranh chấp là do ông bà ngoại bà tạo lập. Việc thỏa thuận là tài sản chung, thỏa thuận bán nhà và đất là có thật. Hiện nay mẹ là bà Thúy đã chết, đối với phần tài sản của mẹ bà trong khối tài sản chung của 09 người thì bà không yêu cầu gì.

Ông Đặng Ngọc Minh Thức (con của bà Nguyễn Ngọc Thúy) trình bày: thống nhất với lời trình bày của Đặng Ngọc Mai Thi và xác định không có yêu cầu gì trong vụ án này.

Ông Nguyễn Ngọc Thường trình bày: Ông thống nhất lời trình bày của nguyên đơn về nguồn gốc căn nhà. Thống nhất với lời trình bày của bị đơn, người có liên quan về việc thỏa thuận tài sản chung, việc mua bán nhà và đất. Ông thừa nhận có nhận 100.000.000 đồng tự bà Thủy. Đối với số tiền 100.000.000 đồng này là do lúc ông còn ở chung, có bỏ tiền ra sửa chữa nhà sau với số tiền tương đương là 06 lượng vàng 24k, quy ra tiền khoảng 100.000.000 đồng, có thỏa thuận với mẹ là Đặng Thị Phấn là khi nào bán nhà thì trả tiền sửa chữa nhà cho ông nên khi ông không còn ở chung, bà Phấn bán nhà ông có yêu cầu bà Phấn trả lại 100.000.000 đồng. Lúc thỏa thuận bán căn nhà Nguyễn Ngọc Thanh còn nợ bà Thủy 500.000.000 đồng nên bà Thùy gật nợ cho ông Thanh trả cho bà Đặng Thị Phấn. Tuy nhiên, ông Thanh không có trả và sau này bà Thủy trực tiếp trả cho ông 100.000.000 đồng. Ông không có yêu cầu gì trong vụ án này.

Bà Huỳnh Ngọc Trúc Phương trình bày: Về căn nhà số 55, tuy bà ngoại Đặng Thị Phấn có thỏa thuận bán cho bà Thủy với giá 500.000.000 đồng, nhưng phải kèm điều kiện là bà Thủy phải lo việc cúng kiến ông bà, nuôi dưỡng bà ngoại và cho mẹ chị là Nguyễn Ngọc Thảo và dì Nguyễn Ngọc Thùy tiếp tục ở trong căn nhà khi nào có khả năng thì ra riêng. Nhưng bà Thủy không hề lo tổ chức giỗ cho ông ngoại, không lo cho bà ngoại và thường xuyên gây chuyện với mẹ chị và bà Thùy nên chị không thống nhất yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Phương không có yêu cầu gì trong vụ án này.

Ông Huỳnh Văn Hùng trình bày: Không thống nhất yêu cầu của nguyên đơn. Vì việc mua bán căn nhà số 55 ông có nghe vợ là Nguyễn Ngọc Thảo nói lại là bà Phấn bán cho bà Thủy với giá 500.000.000 đồng với điều kiện phải cho vợ ông và Nguyễn Ngọc Thùy tiếp tục ở cho đến khi có khả năng ra riêng. Ông yên cầu được tiếp tục ở trong căn nhà vì vợ chồng chưa có khả năng di dời đi nơi khác.

Ông Trần Nam Định trình bày: Ông có nghe vợ ông nói căn nhà số 55 là của bà Đặng Thị Phấn bán cho bà Thủy với giá 500.000.000 đồng với điều kiện bà Thủy phải nuôi dưỡng bà Phấn và cho vợ chồng ông, vợ chồng bà Thảo sống trong căn nhà trên đến khi nào có khả năng ra riêng mới dọn ra ở riêng. Ông Định yêu cầu được tiếp tục sinh sống, mua bán trong căn nhà số 55 khi nào có khả năng mới ra riêng.

Ông Nguyễn Ngọc Công Hữu trình bày: Căn nhà số 55 là của bà ngoại Đặng Thị Phấn, sau đó bán lại cho mẹ ông là Nguyễn Ngọc Thu Thủy. Ông đang sống chung trong căn nhà, ông không có yêu cầu gì trong vụ án.

Ông Nguyễn Văn Hậu: Trước đây mẹ vợ ông là Đặng Thị Phấn có bán căn nhà số 55 cho vợ ông (Nguyễn Ngọc Thu Thủy) với giá 550.000.000 đồng. Sau khi mẹ vợ bán nhà cho vợ ông vẫn đồng ý cho gia đình Nguyễn Ngọc Thảo, Nguyễn Ngọc Thùy ở nhờ cho đến khi có khả năng thì ra riêng, nhưng quá trình ở chung thì Thảo và Thủy thường xuyên kiếm chuyện với vợ ông nên xảy ra tranh chấp.

Ông Ngô Văn Muôn là đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành A trình bày:

Về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Ngọc Thu Thủy và giấy phép xây dựng nhà là đúng quy định pháp luật nên đối với yêu cầu của ông Nguyễn Ngọc Thuấn, Nguyễn Ngọc Thẩm, Đặng Thị Phấn, Nguyễn Ngọc Thảo, Nguyễn Ngọc Thùy hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00087 mang tên Nguyễn Ngọc Thu Thủy thì Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành A không đồng ý.

Ông Nguyễn Ngọc Thanh (vắng mặt) trình bày tại biên bản lấy lời khai 14/12/2012 và trong đơn yêu cầu xét xử vắng mặt ngày 02/01/2016:

Căn nhà số 55 là bà Thủy mua lại của bà Phấn với giá 500.000.000 đồng, do ông có nợ bà Thủy 500.000.000 đồng nên sau khi thỏa thuận bán nhà ông có gửi trực tiếp cho bà Phấn 50.000.000 đồng, gửi trực tiếp cho bà Thủy 50.000.000 đồng để trả cho Nguyễn Ngọc Thường, phần còn lại 400.000.000 đồng, ông không có đưa cho bà Phấn vì bà Phấn đồng ý cho ông mượn làm vốn. Ông cũng đã nhiều lần gửi sữa về cho bà Phấn dùng, ông tạm giữ số tiền này lại cho để sau này lo hậu sự cho bà Phấn, vì nếu đưa cho bà Phấn thì bà Phấn sẽ không giữ được. Do bận công việc nên ông có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 03/2014/DS-ST, ngày 18-02-2014 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A quyết định:

Không chấp nhận khởi kiện đòi lại nhà cho ở nhờ của nguyên đơn Nguyễn Ngọc Thu Thủy đối với các bị đơn Nguyễn Ngọc Thùy, Nguyễn Ngọc Thảo/

Chấp nhận yêu cầu phản tố của các bị đơn Nguyễn Ngọc Thùy, Nguyễn Ngọc Thảo; Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đặng Thị Phấn; Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Ngọc Thuấn, Nguyễn Ngọc Thẩm,

Hủy văn bản Họp mặt gia đình ngày 10/6/2007;

Hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 23/7/2007 giữa bà Đặng Thị Phấn và bà Nguyễn Ngọc Thu Thủy.

Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00087 do Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 14/01/2008 mang tên Nguyễn Ngọc Thu Thủy.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Đặng Thị Phấn trả lại cho bà Nguyễn Ngọc Thu Thủy số tiền mua bán nhà đã nhận là 100.000.000 đồng. Kể từ ngày bà Thủy có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Phấn chậm trả số tiền trên thì hàng tháng bà Phấn còn phải trả cho bà Thủy số tiền lãi chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

Không chấp nhận yêu cầu độc lập của Nguyễn Ngọc Thẩm, Nguyễn Ngọc Thuấn yêu cầu Nguyễn Ngọc Thu Thủy phải di dời đồ đạc, tài sản đi nơi khác trả lại nhà cho bà Đặng Thị Phấn.

Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí đo đạc, định giá; án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 26/02/2014 bà Nguyễn Ngọc Thu Thủy kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 100/2014/DSPT ngày 23/5/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang tuyên xử:

Chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Ngọc Thu Thủy.

Tuyên xử: Sửa án sơ thẩm

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc Thu Thủy

Công nhận quyền sở hữu căn nhà số 55, ấp Thị Tứ, thị trấn Rạch Gòi, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang và quyền sử dụng đất đối với diện tích 170m² tại thửa 280 theo giấy chứng nhận số H.00087 do Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành A cấp cho bà Nguyễn Ngọc Thu Thủy thuộc quyền sở hữu và quyền sử dụng hợp pháp của bà Nguyễn Ngọc Thu Thủy.

Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Ngọc Thẩm, Nguyễn Ngọc Thuấn, Đặng Thị Phấn.

Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Ngọc Thùy, Nguyễn Ngọc Thảo.

Buộc bà Nguyễn Ngọc Thùy, ông Trần Nam Định và Nguyễn Ngọc Thảo và ông Huỳnh Văn Hùng, Huỳnh Ngọc Trúc Phương phải di dời trả lại căn nhà số 55, ấp Thị Tứ, thị trấn Rạch Gòi, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang cho Nguyễn Ngọc Thu Thủy.

Bà Thủy phải hỗ trợ cho bà Thùy, bà Thảo mỗi người là 10.000.000 đồng.

Ngoài ra bản án phúc thẩm còn tuyên về án phí phúc thẩm và quyền yêu cầu thi hành án.

Ngày 09/7/2014 bà Phấn, bà Thùy, bà Thảo, ông Thuấn, bà Thẩm có đơn đề nghị giám đốc thẩm.

Tại quyết định kháng nghị số 03/QĐ-KNGĐT-V5 ngày 16/01/2015 Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị đối với bản án dân sự phúc thẩm số 100/2014/DSPT ngày 23/5/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

Tại quyết định giám đốc thẩm số 48/2015/DS-GĐT ngày 12/3/2015 của Tòa án nhân dân tối cao Quyết định:

Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 100/2014/DSPT ngày 25/5/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang và hủy bản án sơ thẩm số 03/2014/DSST ngày 18/02/2014 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang về vụ án “Tranh chấp đòi nhà ở nhờ và tranh chấp hợp đồng mua bán nhà và quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Ngọc Thu Thủy với bị đơn là bà Nguyễn Ngọc Thùy, bà Nguyễn Ngọc Thảo; và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật.

Trong quá trình giải quyết sơ thẩm lại vụ án, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu hộ gia đình bà Nguyễn Ngọc Thùy và hộ bà Nguyễn Ngọc Thảo di dời đồ đạc ra khỏi nhà trả lại cho bà căn nhà số 55, ấp Thị Tứ, thị trấn Rạch Gòi, huyện Châu Thành A, Hậu Giang.

Đối với bị đơn Nguyễn Ngọc Thảo, Nguyễn Ngọc Thùy vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Đặng Thị Phấn, Nguyễn Ngọc Thẩm, Nguyễn Ngọc Thuấn vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập:

Yêu cầu:

Hủy bỏ biên bản họp gia đình ngày 10/6/2007

Hủy bỏ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Phấn và bà Thủy

Hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00087

Riêng bà Phấn, ông Thuấn, bà Thẩm có yêu cầu giao lại căn nhà cho bà Phấn quản lý.

Tại bản án số 07/2016/DS-PT ngày 25/02/2016 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi lại nhà cho ở nhờ của nguyên đơn Nguyễn Ngọc Thu Thủy đối với các bị đơn Nguyễn Ngọc Thùy, Nguyễn Ngọc Thảo. Chấp nhận yêu cầu phản tố của các bị đơn Nguyễn Ngọc Thùy, Nguyễn Ngọc Thảo; Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đặng Thị Phấn; Nguyễn Ngọc Thuấn, Nguyễn Ngọc Thẩm về việc yêu cầu hủy văn bản “Hợp mặt gia đình” ngày 10/6/2007; Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất không số lập ngày 23/7/2007; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00087 do Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 14/01/2008 mang tên Nguyễn Ngọc Thu Thủy. Không chấp nhận yêu cầu của bà Phấn, bà Thẩm, ông Thuấn về việc yêu cầu giao nhà cho bà Phấn, buộc bà Thủy di dời đồ đạc ra khỏi nhà.

Tuyên bố:

Hợp đồng mua bán nhà ở dưới hình thức văn bản “Hợp mặt gia đình” ngày 10/6/2007 giữa bà Nguyễn Ngọc Thu Thủy và bà Đặng Thị Phấn có chữ ký của bà Nguyễn Ngọc Thu Thủy và bà Đặng Thị Phấn; Nguyễn Ngọc Thanh, Nguyễn Ngọc Thúy, Nguyễn Ngọc Thảo, Nguyễn Ngọc Thường, Nguyễn Ngọc Thùy là vô hiệu;

Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất không số lập ngày 23/7/2007 có chứng thực của Ủy ban nhân dân thị trấn Rạch Gòi, huyện Châu Thành A, Hậu Giang giữa bà Đặng Thị Phấn và bà Nguyễn Ngọc Thu Thủy là vô hiệu.

Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00087 ngày 14/01/2008 do Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang cấp cho bà Nguyễn Ngọc Thu Thủy.

Buộc bà Đặng Thị Phấn có trách nhiệm trả lại cho bà Nguyễn Ngọc Thu Thủy số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) và bồi thường thiệt hại cho bà Thủy 46.345.636 đồng (bốn mươi sáu triệu ba trăm bốn mươi lăm nghìn sáu trăm ba mươi sáu đồng). Tổng cộng là 146.345.636 đồng (một trăm bốn mươi sáu triệu ba trăm bốn mươi lăm nghìn sáu trăm ba mươi sáu đồng).

Ngoài ra bản án còn tuyên về  chi phí thẩm định, định giá; án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 07/3/2016 bà Nguyễn Ngọc Thu Thủy có đơn kháng cáo, ngày 10/3/2016 bà Thủy có đơn kháng cáo bổ sung. Ngày 09/3/2016, bà Đặng Thị Phấn có đơn kháng cáo.

Nội dung: Bà Thủy yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm công nhận hợp đồng mua bán nhà và quyền sử dụng đất cho bà. Bà Phấn yêu cầu cấp phúc thẩm không buộc bà phải trả 100.000.000 đồng và bồi thường thiệt hại cho bà Thủy.

XÉT THẤY

Bà Nguyễn Ngọc Thu Thủy yêu cầu bà Nguyễn Ngọc Thùy và bà Nguyễn Ngọc Thảo phải dời ra khỏi căn nhà số 55, ấp Thị Tứ, thị trấn Rạch Gòi, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang vì căn nhà này bà đã nhận chuyển nhượng của bà Phấn và các anh chị em vào năm 2007. Bà Thùy và bà Thảo không đồng ý vì cho rằng bà Thủy chưa giao 400.000.000 đồng tiền nhận chuyển nhượng còn lại cho bà Phấn và không thực hiện theo các nghĩa vụ đã cam kết nên yêu cầu hủy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00087 do bà Thủy đứng tên. Hai bên phát sinh tranh chấp, bà Thủy khởi kiện đến Tòa án. Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý và giải quyết theo loại kiện “Tranh chấp quyền sử dụng đất; Đòi nhà cho ở nhờ; Hợp đồng mua bán nhà ở và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” là có căn cứ, đúng thẩm quyền.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 07/3/2016 bà Nguyễn Ngọc Thu Thủy có đơn kháng cáo, ngày 10/3/2016 bà Thủy có đơn kháng cáo bổ sung. Ngày 09/3/2016, bà Đặng Thị Phấn có đơn kháng cáo. Xét kháng cáo của bà Thủy và bà Phấn nộp trong hạn luật định nên được xem là hợp lệ.

Nội dung kháng cáo: Bà Thủy yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm công nhận hợp đồng mua bán nhà và quyền sử dụng đất cho bà. Bà Phấn yêu cầu cấp phúc thẩm không buộc bà phải trả 100.000.000 đồng và bồi thường thiệt hại cho bà Thủy.

Qua thẩm vấn công khai tại phiên tòa và xem xét các chứng cứ trong hồ sơ Hội đồng xét xử xét thấy:

Nguồn gốc căn nhà số 55 (số cũ là 32) và phần đất tranh chấp tọa lạc tại ấp Thị Tứ, thị trấn Rạch Gòi, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang là của ông Nguyễn Ngọc Thuần và bà Đặng Thị Phấn tạo lập, ngoài ra ông Thuần và bà Phấn còn tạo lập được thêm phần đất vườn và đất ruộng có diện tích 11.380m². Năm 1982 ông Thuần chết, các tài sản này đều do bà Phấn đứng tên. Ngày 01/6/2005 bà Phấn và các con thống nhất thỏa thuận các tài sản mà bà Phấn và ông Thuận tạo lập được khi còn sống sẽ chia đều làm 09 phần, bà Phấn một phần và tám người con là Nguyễn Ngọc Thuấn, Nguyễn Ngọc Thúy, Nguyễn Ngọc Thanh, Nguyễn Ngọc Thảo, Nguyễn Ngọc Thẩm, Nguyễn Ngọc Thường, Nguyễn Ngọc Thu Thủy và Nguyễn Ngọc Thùy mỗi người một phần.

Ngày 10/6/2007 bà Phấn cùng sáu người con (không có mặt ông Thuấn và bà Thẩm) lập tờ họp mặt gia đình thỏa thuận bán căn nhà cho bà Thủy với giá 550.000.000 đồng, nhưng theo bà Thủy, bà Thùy và bà Phấn xác định thì giá chuyển nhượng thực tế chỉ là 500.000.000 đồng với điều kiện bà Thủy phải thờ cúng ông bà, nuôi dưỡng bà Phấn và cho bà Thùy, bà Thảo ở lại căn nhà đến khi có điều kiện ra riêng. Ngày 23/7/2007 bà Phấn làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất phần đất thổ cư tại số nhà 55 ấp Thị Tứ, thị trấn Rạch Gòi huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang cho bà Thủy.

Nay bà Thủy yêu cầu bà Thùy và bà Thảo di dời khỏi căn nhà vì quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn. Bà Thùy, bà Thảo và bà Phấn cho rằng bà Thủy không thực hiện theo đúng thỏa thuận là thanh toán số tiền 400.000.000 đồng cho bà Phấn, còn 100.000.000 đồng bà Thủy giao cho ông Thường chớ không giao cho bà Phấn nên không đồng ý theo yêu cầu của bà Thủy. Tuy nhiên lời trình bày của bị đơn là không có căn cứ bởi lẽ: Theo tờ họp mặt gia đình lập ngày 10/6/2007 thì có ghi nhận: bà Phấn sau khi bán nhà cho bà Thủy sẽ trả ông Thường 06 cây vàng (10 tuổi) tiền sửa nhà. Sau khi các bên thỏa thuận việc mua bán nhà thì ông Thường có yêu cầu bà Phấn trả cho ông 100.000.000 đồng tương đương 06 cây vàng 10 tuổi nhưng bà Phấn không có khả năng chi trả nên bà Thủy đã trả thay cho bà Phấn phần tiền này và cũng được ông Thường thừa nhận. Như vậy việc bà Thủy trả thay cho bà Phấn 100.00.000 đồng là thực hiện một phần hợp đồng mua bán nhà là phù hợp. Còn đối với 400.000.000 đồng còn lại bị đơn và bà Phấn cho rằng bà Thủy chưa trả. Tuy nhiên thời điểm bà Thủy nhận nhà là vào năm 2005 đến khi phát sinh tranh chấp là năm 2011, trong suốt thời gian đó, trong khi bà Thủy sử dụng, xin cấp phép, sửa chữa nhà và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà nhưng bà Phấn cũng không yêu cầu bà Thủy trả tiền hay phát sinh tranh chấp đối với số tiền trên, bà Phấn và bị đơn cũng không chứng minh được bà Thủy chưa giao đủ tiền cho bà Phấn. Từ đó cho thấy việc giao dịch giữa bà Phấn và bà Thủy đã được thực hiện xong.

Xét tờ họp mặt gia đình lập ngày 10/6/2007 bà Phấn và sáu người con thỏa thuận bán căn nhà cho bà Thủy nhưng theo biên bản họp gia tộc ngày 01/6/2008 thì bà Phấn và các con đều thống nhất phần tài sản mà ông Thuần và bà Phấn tạo lập được sẽ chia đều làm chín phần, mỗi người được hưởng một phần. Như vậy bà Thẩm và ông Thuấn cũng có quyền định đoạt đối với căn nhà và phần đất trên, nhưng trong tờ họp mặt gia đình lập ngày 10/6/2007 lại không có ông Thuấn và bà Thẩm ký tên. Theo thừa nhận của bà Thẩm, ông Thuấn tại phiên tòa phúc thẩm mặc dù thời điểm mua bán ông Thuấn, bà Thẩm không biết nhưng sau khi mua bán xong, ông bà có hỏi và các anh chị em còn lại có cho ông Thuấn, bà Thẩm biết việc bán nhà, đất trên cho bà Thủy nhưng không ai có ý kiến gì. Trong quá trình sử dụng bà Thủy sửa chữa công khai nhưng cũng không ai phản đối. Như vậy, có căn cứ xác định ông Thuấn, bà Thẩm có biết việc mua bán, nhưng không có ý kiến phản đối, xem như bà Thủy mua bán sử dụng hợp pháp, phù hợp theo Án lệ số 04/2016/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đây là tài sản chung của chín người nhưng bảy thành viên đã đồng ý chuyển nhượng cho bà Thủy và bà Thủy đã sử dụng ổn định, có xây dựng, sửa chữa làm mới căn nhà nên cần ổn định cho bà Thủy tiếp tục sử dụng mặc dù ông Thuấn, bà Thẩm biết mà không phản đối nhưng ông bà chưa nhận tiền chuyển nhượng tương ứng của mình nên cần buộc bà Thủy trả giá trị phần căn nhà và đất cho ông Thuấn và bà Thẩm được hưởng là hợp lý.

Theo thỏa thuận của các đương sự thì căn nhà và đất tại thời điểm năm 2007 có giá là 1.300.000.000 đồng chia chín phần là 144.444.444 đồng/phần. Nên bà Thủy có trách nhiệm trả cho ông Thuấn và bà Thẩm mỗi người 144.444.444 đồng. Phù hợp với án lệ số 4 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Từ những phân tích trên, xét thấy kháng cáo của bà Nguyễn Ngọc Thu Thủy là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận một phần và chấp nhận kháng cáo của bà Đặng Thị Phấn;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang trình bày quan điểm:

Tòa án và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận kháng cáo của bà Phấn và chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Thủy.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

QUYẾT ĐỊNH

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Ngọc Thu Thủy, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Đặng Thị Phấn.

Sửa bản án sơ thẩm.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc Thu Thủy

Công nhận quyền sở hữu căn nhà số 55, ấp Thị Tứ, thị trấn Rạch Gòi huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang và quyền sử dụng đất đối với diện tích 170m² tại thửa 208 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.00087 do Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành A cấp cho Nguyễn Ngọc Thu Thủy thuộc quyền sở hữu và sử dụng hợp pháp của bà Nguyễn Ngọc Thu Thủy.

Buộc bà Nguyễn Ngọc Thu Thủy có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Ngọc Thuấn và bà Nguyễn Ngọc Thẩm mỗi người với số tiền 144.444.444 đồng.

Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Ngọc Thẩm, ông Nguyễn Ngọc Thuấn và bà Đặng Thị Phấn

Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Ngọc Thùy và Nguyễn Ngọc Thảo.

Buộc bà Nguyễn Ngọc Thùy, ông Trần Nam Định, bà Nguyễn Ngọc Thảo, ông Huỳnh Văn Hùng, bà Huỳnh Ngọc Trúc Phương phải di dời đi nơi khác để trả lại căn nhà số 55, ấp Thị Tứ, thị trấn Rạch Gòi, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang cho bà Nguyễn Ngọc Thu Thủy.

Bà Nguyễn Ngọc Thu Thủy phải hỗ trợ cho bà Thùy và bà Thảo mỗi người 10.000.000 đồng tiền di dời.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu số tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Ngọc Thu Thủy phải chịu 14.444.444 đồng. Khấu trừ số tiền 13.000.000 đồng bà Thủy đã nộp theo biên lai thu số 0001199 ngày 26/12/2011 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành A thành án phí, bà Thủy phải nộp thêm 1.444.444 đồng.

Bà Nguyễn Ngọc Thẩm, ông Nguyễn Ngọc Thuấn, bà Nguyễn Ngọc Thùy, bà Nguyễn Ngọc Thảo, bà Đặng Thị Phấn mỗi người phải chịu 200.000 đồng, khấu trừ số tiền bà Thẩm, ông Thuấn, bà Thùy, bà Thủy, bà Thảo, bà Phấn đã đóng theo các biên lai thu số 0007517 ngày 18/10/2013, số 0007546 ngày 05/11/2013, số 0005729 ngày 30/7/2013, số 0005730 ngày 30/7/2013, số 0003175 ngày 15/5/2012 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành A thành án phí. Bà Thẩm, ông Thuấn, bà Thùy, bà Thảo đã nộp đủ, bà Phấn được nhận lại 12.800.000 đồng.

Về chi phí thẩm định, định giá: Bà Thủy, bà Thùy và bà Thảo mỗi người phải chịu 1.056.667 đồng. Bà Thủy đã đóng tạm ứng 5.000.000 đồng nên nhận lại 3.943.333 đồng. Bà Thùy đã nộp tạm ứng 700.000 đồng nên phải nộp thêm 356.667 đồng. Bà Thảo phải nộp 1.056.667 đồng.

Án phí dân sự phúc thẩm không ai phải chịu.

Bà Nguyễn Ngọc Thu Thủy được nhận lại 200.000 đồng đã đóng theo biên lai thu số 0006489 ngày 07/3/2016 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành A.

Bà Đặng Thị Phấn được nhận lại 200.000 đồng đã đóng theo biên lai thu số 0006495 ngày 09/3/2016 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành A.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự, có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7A và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.

Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 08/7/2016.



1119
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
    Văn bản được căn cứ
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 135/2016/DS-PT ngày 08/07/2016 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất; đòi nhà cho ở nhờ; hợp đồng mua bán nhà ở và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

    Số hiệu:135/2016/DS-PT
    Cấp xét xử:Phúc thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hậu Giang
    Lĩnh vực:Dân sự
    Ngày ban hành:08/07/2016
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về