Bản án 135/2017/HSST ngày 21/07/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 135/2017/HSST NGÀY 21/07/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ

Ngày 21 tháng 7 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân quận H xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 81/2017/HSST ngày 13 tháng 4 năm 2017 đối với bị cáo;

Trần Thị Trâm A, sinh năm 1989

Hộ khẩu thường trú: xóm 5 xã K, huyện S, tỉnh Ninh Bình. Chỗ ở: Số 66 đê T, phường TL, quận H, thành phố Hà Nội.

Nghề nghiệp: (không)  Văn hoá: (08/12)

Con ông Trần Thanh N  Con bà Đặng Thị Kim C

Danh chỉ bản số 000000011, lập ngày 27/12/2016 tại Công an quận H, thành phố Hà Nội

Tiền sự: Năm 2013, Công an phường CD, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý; Tháng 5/2015 đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm chữa bệnh Giáo dục lao động Xã Hội số II Hà Nội.

Tiền án:

1. Ngày 22/6/2007, Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội xử phạt 09 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

2. Ngày 26/3/2010, Tòa án nhân dân quận M, thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Tạm giữ: 28/12/2016    

Tạm giam: 06/01/2017 (Có mặt tại phiên toà)

NHẬN THẤY

- Trần Thị Trâm A bị Viện kiểm sát nhân dân quận H truy tố về hành vi phạm tội như sau: Khoảng 0 giờ 15 phút ngày 28/12/2016, tổ công tác Công an phường H đang làm nhiệm vụ trên địa bàn, phát hiện Trần Thị Trâm A đang đứng tại vỉa hè trước cửa số nhà 46 phố L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, quá trình kiểm tra, Trâm A tự nguyện giao nộp 01 túi nilon màu trắng kích thước 03 cm x 03cm bên trong chứa tinh thể màu trắng, Trâm A khai là ma túy “đá” mua về để sử dụng. Tổ công tác đã đưa Trâm A cùng tang vật về trụ sở Công an phường H giải quyết.

Thu giữ của Trâm A  01 điện thoại di động Nokia 7230 màu đen (BL 27)

Tại Bản Kết luận giám định số 851/KLGĐ-PC54 ngày 14/02/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon thu giữ của Trần Thị Trâm A là ma túy loại Methamphetamine,m trọng lượng 1,830 gam. (BL 32).

Tại Cơ quan điều tra, Trần Thị Trâm A khai: Khoảng 22 giờ 45 phút ngày 27/12/2016, Trâm A đi xe ôm từ nhà đến ngã tư phố P - THĐ, quận H, thành phố Hà Nội gặp và mua của M (không biết địa chỉ nơi ở) 01 túi nilon màu trắng kích thước 03 cm x 03cm bên trong chứa 02 gam ma túy “đá” với giá 1.800.000 đồng về để sử dụng, sau khi mua được ma túy, Trâm A cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái rồi đi xe ôm tìm nơi sử dụng ma tuý, khi đến phố L, Trâm A xuống xe đi bộ để gọi bạn đến đón, khi Trâm A đang đứng trước cửa số nhà 46 phố L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội thì bị tổ công tác Công an phường H kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ cùng tang vật. Ngoài ra, Trâm A còn khai chiếc điện thoại di động Nokia 7230 là của Trâm A dùng để liên lạc với bạn bè, người thân (BL 65-80).

- Bản cáo trạng số 85/CT-VKS ngày 05/4/2017 của Viện kiểm sát nhân dân quận H đã truy tố Trần Thị Trâm A phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

- Tại phiên toà, trên cơ sở việc hỏi, tranh luận công khai, dân chủ và không bị hạn chế

+ Bị cáo có quan điểm: Tự bào chữa, không nhờ người khác bào chữa. Bị cáo thành khẩn khai nhận ngày 28/12/2016 đã có hành vi tàng trữ 1,830 gam matúy Methamphetamine để sủ dụng,  chưa kịp sử dụng thì bị công an kiểm tra, bắt giữ. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt vì khai báo thành khẩn; Về điện thoại di động bị thu giữ, bị cáo đề nghị được xin lại vì không liên quan đến hành vi phạm tội.

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ Nghị quyết 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc Hội; Công văn 276 ngày 13/9/2016 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số tình tiết có lợi cho bị can, bị cáo theo Bộ luật hình sự năm 2015 xem xét cho BC được hưởng khung hình phạt từ 01 năm - 05 năm.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: khoản 1 điều 194;điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 BLHS; Nghị quyết 109 ngày 27/11/2015 của Quốc Hội; Công văn 276 ngày 13/9/2016 của Tòa án nhân dân tối cao xử phạt bị cáo Trần Thị Trâm A từ 18 đến 24 tháng tù.

Bị cáo không nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng phạt tiền theo qui định tại Điều 194 khoản 5 BLHS.

Áp dụng Điều 76 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy: 01 túi nilon màu trắng kích thước 03x03cm bên trong chứa 1,830 gam Methamphetamine ; Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động Nokia 7230 màu đen kèm sim.

Về án phí: bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo;

XÉT THẤY

Ngày 28/12/2016, Công an phường H kiểm tra Trần Thị Trâm A trước cửa số 46 phố L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội, phát hiện trong lòng bàn tay trái của Trần Thị Trâm A cầm một túi nilon bên trong có 1,830 gam ma tuý Methamphetamine, Trần Thị Trâm A khai đây là số ma túy Trâm A mua, đang tìm nơi sử dụng thì bị Công an kiểm tra. Tổ công tác đã đưa Trâm A cùng tang vật về trụ sở Công an phường H giải quyết.

Như vậy, hành vi của Trần Thị Trâm A đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuy, gây mất trật tự an toàn xã hội. Để có tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung, Hội đồng xét xử thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo.

Nhân thân bị cáo có 02 tiền sự,  trong đó có 01 tiền sự tháng 5 năm 2015 đến tháng 5/2016 đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm chữa bệnh Giáo dục lao động Xã Hội số II Hà Nội còn thời hiệu; 02 tiền án đã được xoá án tích.

Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị  cáo  vì  khai  báo  thành  khẩn;  căn cứ khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH13 của Quốc hội ngày 29/6/2016 về việc lùi hiệu lực thi hành của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 thì kể từ ngày 01/7/2016 thực hiện các quy định có  lợi cho người phạm tội tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 và theo công văn số 276/TANDTC-PC ngày 13/9/2016 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định có lợi cho người phạm tội của Bộ luật hình sự năm 2015 thì kể từ ngày 01/7/2016, các quy định có lợi cho người phạm tội của Bộ luật hình sự năm 2015 bao gồm quy định một hình phạt nhẹ hơn có hiệu lực thi hành. Tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định “ Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc trường hợp các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.

Tang vật: Tịch thu tiêu huỷ ma tuý; Trả lại điện thoại thu giữ của bị cáo vì không liên quan đến hành vi phạm tội.

Bị cáo không có nghề nghiệp nên không phạt tiền.

Bị cáo phải chịu án phí theo Luật định. Bởi những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Trần Thị Trâm A phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

1. Áp dụng: Điều 33, khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 76, Điều 99, Điều 231, Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt: Trần Thị Trâm A 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2016.

2. Tang vật:

Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong bì đã niêm phong có chữ kí của Trần Thị Trâm A và giám định Nguyễn Thị T (đựng 01 gói nilon chứa tinh thể màu trắng là Methamphetamine cân nặng 1,830 gam); Trả lại bị cáo 01 (một) điện thoại Nokia 7230 màu đen.

(Vật chứng trên hiện đang giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận H, theo biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 29/3/2017).

3. Án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án


37
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về