Bản án 138/2017/HS-PT ngày 17/11/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

BẢN ÁN 138/2017/HS-PT NGÀY 17/11/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 17 tháng 11 năm 2017 Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 125/2017/HSPT ngày 01 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo Võ Phước Đ do có kháng cáo của bị cáo và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 71/2017/HSST ngày 25 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Bị cáo có kháng cáo và bị kháng nghị:

Võ Phước Đ (Tí), sinh năm 1990 tại Bà Rịa Vũng Tàu; hộ khẩu thường trú: Tổ 9 ấp B, xã X, huyện T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; chỗ ở: như trên; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 12/12; cha là ông Võ Văn U, sinh năm 1949 và mẹ bà Phan Thị Q, sinh năm: 1952; vợ là Nguyễn Vũ Hoàng O, sinh năm 1992 và 02 con, con lớn sinh năm 2013 và con nhỏ sinh năm 2015.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị bắt ngày 16/6/2017 (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản án hình sự sơ thẩm 71/2017/HSST ngày 25 tháng 9 năm 2017 của TAND huyện Long Điền thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Phước Đ là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy(ma túy đá), Đ sử dụng ma túy khoảng 02 năm, thường mua ma túy của đối tượng tên Q và M (chưa rõ lai lịch) ở thành phố T để sử dụng, mỗi lần mua từ 10.000.000đ đến 23.000.000đ. Vào ngày 14/6/2017 Đ điều khiển xe mô tô biển số 72E1-481.74 qua thành phố T g p đối tượng M mua 02 gói ma túy với giá 23.000.000đ. Sau đó, Đ đem số ma túy mới mua được về thuê khách sạn G tại thành phố R ở và sử dụng được 02 lần. Khoảng 11 giờ ngày 16/6/2017, Đ bỏ số ma túy còn lại vào túi áo khoác của mình rồi điều khiển xe mô tô đến thị trấn H, huyện Đ để tắm biển. Khi Đ chạy xe đến khu vực ấp T, xã N, huyện Đ dừng lại mua nước uống thì bị cơ quan công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang Đ có hành vi tàng trữ trái phép số ma túy trên.

Vật chứng thu giữ: 02 gói nylon màu trắng, được hàn kín, bên trong có chứa chất tinh thể không màu trong suất, được niêm phong trong một phong bì màu vàng, sau khi gửi giám định Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đã niêm phong lại vụ số 126 ngày 19/6/2017. Hiện đã chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Điền quản lý chờ xử lý.

01 điện thoại di động hiệu SamSung, màu vàng; 02 máy tính bảng(Ipad) và số tiền 1.000.000đ. Đã trả lại cho Nguyễn Vũ Hoàng O là vợ của Đ.

01 xe mô tô biển số 72E1-481.74, đã trả lại cho Võ Văn D (anh ruột của Võ Phước Đ) là chủ sở hữu.

Tại bản kết luận giám định số 126/GĐ -PC54 ngày 19/6/2017 của Phòng kĩ thuật hình sự công an tỉnh Vũng Tàu kết luận:

Chất kết tinh không màu trong suốt chứa trong 02(hai) gói nylon hàn kín, được niêm phong trong một phong bì màu vàng,có hình dấu của Công an xã An Ngãi-CAH Long Điền, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Võ Phước Đ, Trần Văn M, Huỳnh Phúc Th, Vũ Thị H, gửi đến giám định có khối lượng 33,7583 gam, là chất ma túy, loại Methamphetamine.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 71/2017/HSST ngày 25 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Võ Phước Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm l khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 33; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự 1999.

Xử phạt: Võ Phước Đ (Tí) 06 (sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16 tháng 6 năm 2017.

Ngoài ra bản án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 02/10/2017 bị cáo Võ Phước Đ có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do bản án cấp sơ thẩm quá n ng.

Ngày 20/10/2017 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có quyết định kháng nghị số 684/KNPT-P7 kháng nghị một phần bản án số 71/2017/HSST ngày 25 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, áp dụng điểm m khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999 và tăng hình phạt đối với bị cáo

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo,Viện kiểm sát rút một phần yêu cầu kháng nghị về việc áp dụng điều luật.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi xem xét toàn bộ nội dung vụ án và đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy Võ Phước Đ đã tàng trữ trái phép 33,7583 gam chất ma túy Methamphetamine và bị bắt quả tang. Do vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm l khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015. Tuy nhiên, bị cáo tang trữ khối lượng ma túy ở thế rắn là 33.7583 gam nhưng cấp sơ thẩm chỉ xử phạt bị cáo Đ chỉ 06 năm tù là quá nhẹ, không tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, xét xử mức án đối với bị cáo từ 6 năm 06 tháng tù đến 7 năm tù.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, sau khi nghe ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án hành vi của Thẩm phán, quyết định của Tòa án huyện Long Điền đã tuân thủ đúng thủ tục tố tụng. Bị cáo không có ai khiếu nại hay tố cáo hành vi, quyết định của Thẩm phán và của Tòa án.

Đơn kháng cáo của bị cáo và kháng nghị của Viện kiểm sát gửi trong thời gian quy định của pháp luật nên hợp lệ và được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2]Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở để xác định như sau: Vào khoảng 11 giờ 10 phút ngày 16/6/2017 tại khu vực ấp T, xã N, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Võ Phước Đ đã cất giữ trái phép chất ma túy Methamphetamine, có khối lượng 33,7583 gam trong túi áo trên người của mình và bị bắt quả tang. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ và đúng người, đúng tội.

[3] Xét Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát:

Về việc đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng: Áp dụng điểm m khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999 và tăng hình phạt đối với bị cáo. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự 2015, khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự 2015 về việc áp dụng các quy định có lợi cho bị cáo. Thấy rằng: Mức hình phạt cao nhất quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 nhẹ hơn mức hình phạt cao nhất quy định Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, nên Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là nhẹ hơn.

Mặt khác thời điểm bị cáo phạm tội thì chất ma túy Methamphetamine vẫn được coi là “...Các chất ma túy khác ở thể rắn..”. Vì vậy, cấp sơ thẩm áp dụng điểm l khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 xét xử đối với bị cáo là có căn cứ.

Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát đã căn cứ vào khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng hình sự rút một phần kháng nghị về việc áp dụng điều luật. Hội đồng xét xử xét thấy việc rút kháng nghị là có căn cứ nên chấp nhận. Xét khối lượng ma túy bị cáo Đ tàng trữ là 33,7583g Methamphetamine là lớn ở mức định lượng khung hình phạt tại điểm l khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 nhưng cấp sơ thẩm chỉ xét xử bị cáo 06 năm tù là chưa phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát, tăng hình phạt đối với bị cáo.

[4] Về kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Võ Phước Đ: Xét tính chất và mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến những quy định của Nhà nước về quản lý chất gây nghiện và trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến nhiều m t của đời sống xã hội, làm nguy cơ phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Với hành vi của bị cáo như trên cần xét xử bị cáo một mức án nghiêm khắc là cần thiết để răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Tại phiên tòa phúc thẩm xét thấy bị cáo không cung cấp được các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới theo quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự.

Mức án 06 năm mà cấp sơ thẩm đã tuyên là nhẹ so với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo

[5] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực từ ngày hết thời hạn kháng cáo, hết thời hạn kháng nghị.

Bởi các lẽ trên;

Căn cứ khoản 1 Điều 238, điềm b khoản 2 Điều 248, khoản 3 Điều 249 Bộ luật Tố tụng hình sự;

QUYẾT ĐỊNH

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Võ Phước Đ, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt.

Tuyên bố Võ Phước Đ (Tí) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm l khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 33; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự 1999.

Xử phạt: Võ Phước Đ (Tí) 06 (sáu) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16 tháng 6 năm 2017

Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Võ Phước Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Các quyết định khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (17/11/2017).


49
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về