Bản án 139/2018/HS-ST ngày 29/11/2018 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH K - TP. ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 139/2018/HS-ST NGÀY 29/11/2018 VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Trong ngày 29 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh K, TP Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 144/2018/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2018/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh Q; Sinh năm 1995; tại tỉnh Quảng Nam;

Nơi ĐKHKTT: Thôn 2, xã Bình G, huyện Thăng B, tỉnh Quảng Nam; Chỗ ở: Thôn Lệ B, xã Duy C, huyện Duy X, tỉnh Quảng Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Thanh T và bà Võ Thị H (đều còn sống); gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ 2; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Mỹ L và 01 con (sinh năm 2016).

Tiền án: Ngày 30-6-2014, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xử phạt 12 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" tại Bản án số 147/2014/HSPT.

Tiền sự: chưa.

Nhân thân: Ngày 07-8-2018, bị Tòa án nhân dân quận Thanh K, TP Đà Nẵng ra Quyết định số 55/2018/QĐ-TA v/v "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc" (hiện nay đã tạm đình chỉ thi hành quyết định này).

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 02-10-2018; hiện đang bị tạm giam; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Tạ Thị N; sinh năm: 1959; địa chỉ: số 95 Lê Đình L, phường Vĩnh T, quận Thanh K, TP Đà Nẵng; vắng mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Võ Quang A; sinh năm: 1984; địa chỉ: số 97 Mai A1, TP Đà Nẵng; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ tháng 6-2018, Nguyễn Thanh Q từ Quảng Nam ra Đà Nẵng sinh sống ở cùng với mẹ là bà Võ Thị H tại đường Hoàng D, TP Đà Nẵng vài ngày, nhưng do mâu thuẫn với mẹ nên bỏ đi sống nơi khác. Vào ngày 10-7-2018, Quốc đến thuê phòng ở nhà nghỉ Minh Hòa số 95 Lê Đình L, phường Vĩnh T, quận Thanh K, thành phố Đà Nẵng do chị Tạ Thị N quản lý để lưu trú. Đến ngày 11-7-2018, Q biết được nhà nghỉ có cho thuê xe mô tô nên Q đã liên hệ với chị N thuê xe mô tô hiệu Wave RS biển kiểm soát 43X4-9674 với giá 100.000 đồng/ngày, trả tiền thuê theo ngày và sử dụng đến ngày 13-7-2018. Do không có tiền tiêu xài, Q trước đó có mượn tiền của Phạm Quốc N1 số tiền 2.000.000 đồng nên Nam đòi nợ nhưng Q không có tiền trả. Q nhờ N1 chỉ chỗ để đem xe 43X4-9674 đi cầm cố lấy tiền. N1 đồng ý và dẫn Q đến gặp Võ Quang A để cầm xe. Qua trao đổi, A đồng ý cầm cố xe với số tiền 3.000.000 đồng (trừ 300.000 đồng tiền lãi, thực nhận 2.700.000 đồng) nhưng dưới hình thức yêu cầu Q ký vào giấy mượn số tiền 3.000.000 đồng và thế chấp lại xe 43X4-9674. Có tiền, Q trả nợ N1 2.000.000 đồng còn lại tiêu xài cá nhân hết. Đến chiều ngày 13-7-2018, Q về lại nhà nghỉ, chị N thấy Q không mang xe về nên hỏi thì Q nói dối với chị N là xe bị hư đang sửa. Sau đó, Q thừa nhận đã mang xe đi cầm cố và xin chị N cho vài ngày để chuộc xe về nhưng chị N không đồng ý và đã đến công an phường Vĩnh T báo sự việc.

Ngày 14-7-2018, anh Võ Quang A biết được xe mô tô 43X4-9674 nhận cầm cố từ Nguyễn Thanh Q là xe do Q thuê ở khách sạn M nên đã đem xe đến khách sạn M giao trả lại cho chị Tạ Thị N và chị N đã giao nộp cho cơ quan điều tra để điều tra xử lý theo thẩm quyền.

Vật chứng tạm giữ:

+ 01 xe mô tô hiệu Wave RS biển kiểm soát 43X4-9674

+ 01 giấy đăng ký xe 43X4-9674 tên Nguyễn Minh Th

+ 01 điện thoại di động hiệu Asus màu đen, imei 1: 359894075039126; Imei 2: 359894075039134.

+ 01 chứng minh nhân dân tên Nguyễn Thanh Q

Theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quậnThanh K xác định: xe mô tô hiệu Wave RS  biển kiểm soát 43X4-9674 có giá trị 7.400.000 đồng.

Qua điều tra xác định, xe mô tô hiệu Wave biển kiểm soát 43X4-9674 do anh Nguyễn Minh Th đứng tên chủ sở hữu. Tháng 7-2018, anh Th bán xe cho chị Tạ Thị N nhưng chị N chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ. Nên ngày 19-7-2018, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Tạ Thị N 01 xe mô tô hiệu Wave RS biển kiểm soát 43X4-9674 và 01 giấy đăng ký xe 43X4-9674 tên Nguyễn Minh Th. Chị N đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.

Anh Võ Quang A không yêu cầu Nguyễn Thanh Q phải bồi thường số tiền 2.700.000 đồng đã nhận cầm cố xe 43X4-9674.

Cơ quan điều tra đã chuyển vật chứng là 01 điện thoại di động hiệu Asus màu đen, Imei 1: 359894075039126; Imei 2: 359894075039134 và 01 chứng minh nhân dân tên Nguyễn Thanh Q số 205681517 đến Chi cục Thi hành án Dân sự quận Thanh K, TP Đà Nẵng quản lý theo quy định của pháp luật.

Bản cáo trạng số 143/CT-VKS ngày 14 tháng 11 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh K, TP Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh Q về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự với hành vi phạm tội như trên.

* Tại phiên toà hôm nay, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh K, TP Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh Q phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù giam.

Về trách nhiệm dân sự, chị Tạ Thị N và anh Võ Quang A không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên không đề cập đến. Về xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo vật chứng là 01 điện thoại di động hiệu Asus màu đen, Imei 1: 359894075039126; Imei 2: 359894075039134 và 01 chứng minh nhân dân tên Nguyễn Thanh Q số 205681517.

Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để sớm hòa nhập cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1] Vào ngày 13-7-2018 tại số 95 Lê Đình L, phường Vĩnh T, quận Thanh K, thành phố Đà Nẵng; Nguyễn Thanh Q đã lợi dụng sự tin tưởng của chị Tạ Thị N để thuê xe mô tô hiệu Wave RS biển kiểm soát 43X4-9674 có giá trị 7.400.000 đồng; sau đó, Q dùng thủ đoạn gian dối mang đi cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân.

 [2] Hành vi trên của bị cáo đã cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự, giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 7.400.000 đồng. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh K truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thanh Q là có căn cứ, đúng pháp luật.

 [3] Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến mối quan hệ tài sản công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là một thanh niên tuổi đời còn rất trẻ, có trình độ học vấn nhất định, đã có vợ con nhưng lại có lối sống không lành mạnh. Bị cáo từng bị kết án về loại tội chiếm đoạt tài sản, nghiện ma túy, nợ nần dẫn đến việc nghĩ cách để chiếm đoạt tài sản của người khác nhằm giải quyết món nợ của mình. Hành vi và lối sống của bị cáo đáng bị lên án nên phải chịu hình phạt tương xứng, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục.

 [4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thanh Q tái phạm nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

 [5] Về trách nhiệm dân sự: Chị Tạ Thị N và anh Võ Quang A không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

 [6] Về xử lý vật chứng: Theo Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần trả lại cho bị cáo vật chứng là 01 điện thoại di động hiệu Asus màu đen, số Imei 1: 359894075039126; Imei 2: 359894075039134 và 01 giấy chứng minh nhân dân số 205681517 mang tên Nguyễn Thanh Q do không liên quan đến tội phạm.

 [7] Trong vụ án có Phạm Quốc N1 chỉ chỗ để Nguyễn Thanh Q cầm cố và Võ Quang A nhận cầm cố xe Wave RX biển kiểm soát 43X4-9674 nhưng anh N1 và anh A không biết đó là tài sản do Quốc phạm tội mà có; nên Cơ quan CSĐT công an quận Thanh K, thành phố Đà Nẵng không xử lý hình sự đối với anh Nam, anh Ái là có căn cứ.

 [8] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

 [9] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục pháp luật quy định.

 [10] Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm Sát tại phiên tòa hôm nay do phù hợp pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh Q phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;

1. Trách nhiệm hình sự:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Q 12 (mười hai) tháng tù; thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02-10-2018.

2. Xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh Q vật chứng là 01 điện thoại di động hiệu Asus màu đen, số Imei 1: 359894075039126; Imei 2: 359894075039134 và 01 giấy chứng minh nhân dân số 205681517 mang tên Nguyễn Thanh Q.

Các vật chứng nói trên Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh K, TP Đà Nẵng hiện đang tạm giữ theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16-11-2018.

3. Án phí sơ thẩm:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sựNghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Thanh Q phải nộp là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

4. Người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các điều 6,7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi Hành án dân sự.


33
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về