Bản án 140/2019/HS-ST ngày 20/08/2019 về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 140/2019/HS-ST NGÀY 20/08/2019 VỀ TỘI TIÊU THỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ

Ngày 20/8/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 146/2019/HSST ngày 26 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2019/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

1. NGUYỄN NGỌC T1 – sinh năm:1992; Tên thường gọi khác: không; Nơi thường trú: xã K, huyện L, Hà Nội; Nơi ở: lang thang; Nghề nghiệp: tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hoá:11/12; Con ông: Nguyễn Văn H ( đã chết ); Con bà: Bùi Thị T; Tiền án, tiền sự: Ngày 25/1/2018 TAND huyện Văn Giang, Hưng Yên xử 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa xóa án tích; Nhân thân: có 01 tiền án và 01 tiền sự đã xóa và hết thời hiệu, cụ thể: Ngày 26/5/2017 UBND xã Kiêu Kỵ áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 15/4/2010 TAND huyện Gia Lâm, Hà Nội xử 12 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ngày 08/7/2010 TAND TP. Hà Nội xử phúc thẩm 06 tháng tù, đã xóa án tích; Danh chỉ bản: 0038, lập ngày 19/12/2018 do công an quận Hai Bà Trưng. Bị cáo bị tạm giữ ngày 17/12/2018. Hiện đang tạm giam.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

2. ĐỖ ĐẮC T2 - sinh năm:1990; Tên thường gọi khác: không; Nơi thường trú: 12 L, Phường V, quận Đ, Hà Nội; Nơi ở: lang thang; Nghề nghiệp: tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hoá:6/12; Con ông: Đỗ Đắc H; Con bà: Trần Thị T; Tiền án, tiền sự: Ngày 17/5/2017 TAND quận Hoàn Kiếm, Hà Nội xử 06 tháng tù về tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, chưa xóa án tích; Nhân thân: 01 tiền sự đã hết thời hiệu, cụ thể: Ngày 11/3/2009 đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm cai nghiện số 6, Hà Nội; Danh chỉ bản: 0039, lập ngày 19/12/2018 do công an quận Hai Bà Trưng. Bị cáo bị tạm giữ ngày 17/12/2018. Hiện đang tạm giam Bị cáo có mặt tại phiên toà.

3.NGUYỄN THỊ H – sinh năm: 1995 Tên thường gọi khác: không; Nơi thường trú: 17 C, phường V, quận Đ, Hà Nội ; Nơi ở: lang thang; Nghề nghiệp: tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hoá:9/12; Con ông: Nguyễn Phú H2; Con bà: Đặng Thị Giang; Tiền án, tiền sự: Ngày 15/11/2016 TAND quận Đống Đa, Hà Nội xử 28 tháng tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”, chưa xóa án tích; Ngày 03/7/2018, TAND quận Đống Đa xử 26 tháng tù về tội:” Tàng trữ trái phép chất ma túy ”, chưa xóa án tích. Danh chỉ bản: 0037, lập ngày 19/12/2018 do công an quận Hai Bà Trưng. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 17/12/2018. Thay đổi biện pháp ngăn chặn ngày 26/12/2018. Hiện đang tại ngoại.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Anh Nguyễn Ngọc T3 – 1979; HKTT: số 2M, quận H, Hà Nội. (Vắng mặt tại phiên tòa)

Anh Lã Mạnh H2 – 1975; Nơi cư trú: số 1 ngõ C, phường B, quận Đ, Hà Nội. (Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 23 giờ ngày 14/12/2018, anh Nguyễn Ngọc T3 dựng chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Lead màu nâu đen, BKS: 30N6-6xxx tại vỉa hè đối diện số 67 Tô Hiến Thành, phường Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội nhưng không khóa cổ, khóa càng xe. Sau đó anh T3 vào cơ quan làm việc. Đến khoảng 8 giờ 30 phút ngày 15/12/2018, anh T3 ra lấy xe thì phát hiện bị mất chiếc xe trên nên đã đến công an phường Lê Đại Hành để trình báo sự việc.

Hi 14 giờ ngày 15/12/2018, công an quận Hai Bà Trưng phối hợp với công an phường Văn Chương tiến hành kiểm tra phát hiện bắt giữ đối tượng Nguyễn Ngọc T1 và Nguyễn Thị H tại bãi gửi xe đối diện số 82 ngõ Trung Tiền, Văn Chương, quận Đống Đa, Hà Nội khi các đối tượng đang lấy chiếc xe máy Honda Lead màu nâu đen không biển kiểm soát ra khỏi bãi xe. Cơ quan công an đã tiến hành điều tra và xác định chiếc xe máy trên chính là chiếc xe máy của anh Nguyễn Ngọc T3 bị trộm cắp. Quá trình điều tra, cơ quan công an đã xác định nội dung vụ việc và các đối tượng liên quan như sau:

Khong 03 giờ ngày 15/12/2018, Đỗ Đắc T2 đang ngồi chơi tại ngã ba Nguyễn Đình Chiểu – Trần Nhân Tông phía vỉa hè cổng công viên Thống Nhất thì gặp T4 “lùn” là người quen biết xã hội đang dắt chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Lead màu nâu, BKS: 30N6-6xxx đi hướng Nguyễn Đình Chiểu rẽ trái ra phố Trần Nhân Tông thì T4 “lùn” nói với T2 “đẩy hộ chú chiếc xe này rồi chú cho tiền”. T2 quan sát chiếc xe máy T4 đang đi thấy khóa xe bị đục phá, chìa khóa cắm ổ khóa là loại khóa xe ngắn (khóa xe Dream). T2 không hỏi giấy tờ xe vì biết là xe trộm cắp nên không có giấy tờ. Do T4 hứa sẽ chia cho T2 một phần số tiền bán xe nên T2 đồng ý. Do T2 đang đi xe nên cả hai đi về nhà của T2 thuê tại số 5 Q, C, Đống Đa, Hà Nội. T4 để xe lại nhà T2 nhờ bán hộ. T2 gọi điện thoại cho H nói “có chỗ nào đẩy xe thì đẩy cho anh”, H đồng ý và hẹn T2 mang xe đến nhà H. Khoảng 4 giờ 30 phút T2 đi xe đến nhà H tại số 178 xóm Dân Chủ, phường Văn Chương, quận Đống Đa, Hà Nội. Khi đến nhà H, T2 gọi H xuống và nhờ H bán hộ chiếc xe máy Honda Lead màu nâu, BKS: 30N6-6xxx với giá 4 triệu. H quan sát thấy ổ khóa xe đã bị đục phá, chìa khóa cắm trên xe lại là của loại xe khác, xe không có giấy tờ nên H biết rõ đây là xe trộm cắp. H mặc cả giá với T2 là bán với giá 3,5 triệu lấy tiền sau khi H bán được xe, T2 đồng ý để xe lại cho H bán hộ và đi về. Sau khi T2 về T1 ra dắt xe Honda Lead vào nhà và tháo BKS cho vào trong túi nilon màu hồng treo ở móc treo đồ của xe. T1 tháo BKS xe mục đích không ai phát hiện để đưa đi tiêu thụ, còn H lên nhà gọi điện thoại cho Lã Mạnh H2. H bảo H2 có xe Honda Lead không giấy tờ có mua không, H2 đồng ý. H thỏa thuận bán cho H2 với giá 4,5 triệu đồng, H2 đồng ý và nói hiện chỉ có 1,4 triệu đồng. H nói sẽ cho người đến lấy trước 1,4 triệu khi nào có đủ sẽ giao xe, H2 đồng ý hẹn H đến gặp H2 ở đầu ngõ Cẩm Văn để giao tiền. H nói với T1 đến ngõ Cẩm Văn nhận 1,4 triệu đồng của H2. T1 điều khiển chiếc xe Honda Lead BKS: 30N6-6xxx đến ngõ Cẩm Văn thì gặp H2 ở đây, H2 đưa 1,4 triệu đồng cho T1 và không nói gì với T1. Sau khi lấy tiền xong T1 đi qua đầu ngõ 221 Tôn Đức Thắng vứt BKS đã tháo vào thùng rác và quay về Trần Quý Cáp đưa tiền cho T2 rồi quay về nhà H. Sauk hi nhận tiền từ T1, T2 đi vào trong ngõ 51/12 Linh Quang thì gặp T4 nên T2 đã đưa 1,4 triệu đồng cho T4. Còn T1, sau khi về nhà H thì T1 đi xe Honda Lead và H đi xe Vespa đến bãi gửi xe đối diện số 82 ngõ Trung Tiền, phường Văn Chương, Đống Đa, Hà Nội gửi chiếc xe máy Honda Lead ở bãi xe rồi đi về nhà. Đến khoảng 14 giờ ngày 15/12/2018 H mượn thêm được 1.000.000 đồng của bạn ngoài xã hội và cùng T1 đi xe máy Vespa đến nhà T2 đưa cho T2 1 triệu đồng. Sau đó H và T1 đến bãi gửi xe đối diện số 82 ngõ Trung Tiền để lấy xe thì bị lực lượng công an kiểm tra bắt giữ đưa về trụ sở làm việc và thu giữ chiếc xe máy Honda Lead. Quá trình điều tra Cơ quan công an đã xác định chiếc xe máy Honda Lead không biển kiểm soát thu giữ được của H và T1 chính là chiếc xe máy của anh Nguyễn Ngọc T3 đã bị mất ngày 14/12/2018.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị H, Đỗ Đắc T2 và Nguyễn Ngọc T1 đã khai nhận hành vi nêu trên và thừa nhận biết là xe trộm cắp nhưng vẫn mang đi tiêu thụ.

Hi đồng định giá trong tố tụng hình sự quận Hai Bà Trưng đã định giá tài sản chiếc xe máy Honda Lead không BKS, số khung: 081846, số máy: 04176xx có giá trị 17.000.000 đồng.

Đi với anh Nguyễn Ngọc T3 đã xuất trình giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản hợp pháp nên cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe máy xe máy Honda Lead không BKS, số khung: 081846, số máy: 04176xx cho anh T3. Anh Tùng không có yêu cầu gì Đối với Lã Mạnh H2, H2 khai nhận chỉ giao dịch với H qua điện thoại về việc H2 đồng ý mua chiếc xe máy Honda Lead màu nâu không giấy tờ với giá 4,5 triệu. Nhưng H2 mới đưa cho H 1,4 triệu đồng nên H chưa giao xe cho H2 và H2 cũng không biết chiếc xe trên như thế nào. Lời khai của H2 phù hợp với lời khai của Nguyễn Thị H và Nguyễn Ngọc T1 nên cơ quan điều tra không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H2.

Đi với vụ án Trộm cắp tài sản xảy ra tại vỉa hè đối diện số 67 Tô Hiến Thành, Hai Bà Trưng, Hà Nội hiện chưa xác định được đối tượng đã thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe máy Honda Lead màu nâu đen, BKS: 30N6-6xxx số khung: 081846, số máy: 04176xx. Đối với đối tượng có tên T4 lùn hiện chưa xác minh được nhân thân lai lịch. Cơ quan điều tra công an quận Hai Bà Trưng đã ra Quyết định tách vụ án hình sự “Trộm cắp tài sản” và tài liệu liên quan đến đối tượng T4 lùn để tiếp tục điều tra làm rõ.

Ngoài hành vi phạm tội nêu trên, Nguyễn Ngọc T1 còn khai nhận tham gia 01 vụ Trộm cắp tài sản xảy ra tại địa bàn quận Đống Đa trước đó nên cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu liên quan đến cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết.

Tại cáo trạng số: 66/CT-VKS ngày 02/4/2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Ngọc T1, Đỗ Đắc T2 và Nguyễn Thị H về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 (đối với T1 và T2), khoản 2 (đối với H) Điều 323 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Các bị cáo khai nhận tội như nội dung cáo trạng đã nêu. Bị cáo T2 thừa nhận: Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 15/12/2018, tại khu vực ngã ba Nguyễn Đình Chiểu – Trần Nhân Tông phía vỉa hè cổng công viên Thống Nhất bị cáo T2 đã nhận bán hộ chiếc xe máy Honda Lead màu nâu, BKS: 30N6-6xxx số khung: 081846, số máy: 04176xx từ đối tượng tên là T4 lùn (hiện chưa xác định được nhân thân) mục đích được chia tiền bán xe, mặc dù bị cáo biết rõ xe máy này là xe trộm cắp.

Các bị cáo thừa nhận: Khoảng 4 giờ 30 phút ngày 15/12/2018, bị cáo T2 đi chiếc xe máy Honda Lead trên đến nhà bị cáo H tại số 178 xóm Dân Chủ, phường Văn Chương, quận Đống Đa, Hà Nội. Bị cáo H và bị cáo T1 biết rõ xe Honda Lead này do trộm cắp mà có nhưng do hám lời vẫn mang đi bán cho Lã Mạnh H2 nhưng chưa giao xe vì H2 chưa giao đủ tiền theo như thỏa thuận.

Các bị cáo nhận tội, xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 323 khoản 1; Điều 51 khoản 1 điểm s; Điều 52 khoản 1 điểm h của BLHS sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt: Nguyễn Ngọc T1 và Đỗ Đắc T2 với mức án từ 18 đến 24 tháng tù.

Áp dụng Điều 323 khoản 2 điểm đ; Điều 51 khoản 1 điểm s của BLHS sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt Nguyễn Thị H với mức án từ 42 đến 48 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên không xét.

Xử lý vật chứng: Tịch thu sung công 01 điện thoại di động SamSung thu giữ của bị cáo H, 01 điện thoại di động Nokia màu xanh đen và số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của bị cáo T2.

Tch thu tiêu hủy 01 ví giả da màu nâu và 01 bộ van phá khóa thu giữ của bị cáo T1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi và tội danh: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo, các tài liệu, chứng cứ khác tại cơ quan điều tra. Được chứng minh bằng tang vật vụ án thu được của các bị cáo. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 03 giờ 00 phút sáng đến 14 giờ ngày 15/12/2018 xuất phát từ khu vực khu vực ngã ba Nguyễn Đình Chiểu – Trần Nhân Tông phía vỉa hè cổng công viên Thống Nhất, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội bị cáo Đỗ Đắc T2, Nguyễn Ngọc T1 và Nguyễn Thị H đã tiêu thụ chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Lead màu nâu, BKS: 30N6-6xxx, số khung: 081846 và số máy: 04176xx khi biết rõ chiếc xe máy này do phạm tội mà có. Hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 323 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Về nhân thân, tiền án, tiền sự và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Nhân thân của các bị cáo đều đã có tiền án, tiền sự. Đối với bị cáo T1 có 02 tiền án trong đó có 01 tiền án chưa được xóa ngày 25/1/2018 TAND huyện Văn Giang, Hưng Yên xử 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo T2 có 01 tiền án chưa được xóa ngày 17/5/2017 TAND quận Hoàn Kiếm, Hà Nội xử 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Bị cáo T2 và T1 phạm tội lần này là tái phạm cần áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với cả hai bị cáo.

Đi với bị cáo H có 02 tiền án chưa được xóa và chưa đi thi hành án, cụ thể: Ngày 15/11/2016 TAND quận Đống Đa, Hà Nội xử 28 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Ngày 03/7/2018, TAND quận Đống Đa xử 26 tháng tù về tội: ”Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo phạm tội lần này là tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung của điều luật.Do đó, Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo điểm đ khoản 2 Điều 323 BLHS sửa đổi bổ sung năm 2017 là hoàn toàn chính xác.

Tại phiên tòa hôm nay cũng như tại cơ quan điều tra các bị cáo đều thành khẩn khai nhận tội và ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo.

[4] Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm xâm phạm trật tự, an toàn xã hội. Các bị phạm tội có tính chất đồng phạm giản đơn, tự phát. Bị cáo T2 là người nhận bán hộ chiếc xe máy Honda Lead màu nâu, BKS: 30N6-6xxx, số khung: 081846 và số máy: 04176xx từ đối tượng T4 “lùn”, được hứa hẹn sẽ được chia tiền bán xe. Bị cáo H là người nhận bán hộ xe cho bị cáo T2 là 3,5 triệu đồng. Bị cáo H bán lại cho Lã Mạnh H2 chiếc xe máy trên là 4,5 triệu đồng hưởng định hưởng chênh lệch 1.000.000 đồng nhưng mới nhận từ đối tượng H2 1,4 triệu đồng. Bị cáo T1 trợ giúp đắc lực cho bị cáo H, là người nhận tiền từ H2, trả tiền cho bị cáo T2 tổng cộng 2.400.000 đồng, trực tiếp tháo BKS xe để tránh bị phát hiện, mang xe đi cất giấu tại bãi gửi xe. Xét vai trò của các bị cáo như nhau. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trên nhiều nơi khác nhau. Các bị cáo đều nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do hám lời vẫn cố tình phạm tội.

Do đó, cần phải áp dụng hình phạt tù cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội. Đối với bị cáo H cần phải tổng hợp hình phạt của lần phạm tội này với các hình phạt của hai bản án bị cáo chưa thi hành án. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ của bản án số 440/2016/HSST ngày 15/11/2016 của TAND quận Đống Đa là 06 ngày ( từ 23/6/2016 đến ngày 26/6/2016 ) và lần phạm tội này là 10 ngày ( từ ngày 17/12/2018 đến ngày 26/12/2018 ).

Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ nêu trên để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[5] Về biện pháp tư pháp và các vấn đề khác: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tch thu sung công số tang vật sau: 01 điện thoại di động Samsung màu trắng (đã qua sử dụng, bị vỡ màn hình ) có số Imei1: 354797060596924; Imeil 2: 354798060596922 thu giữ của bị cáo H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh đen (đã qua sử dụng) có số Imei: 357342089140698 và số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của bị cáo T2.

Tch thu tiêu hủy: 01 chiếc ví giả da màu nâu và 01 bộ van phá khóa thu giữ của bị cáo T1.

Trả lại bị cáo T1 207.000 đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo.

Đi với vụ án Trộm cắp tài sản xảy ra tại vỉa hè đối diện 67 Tô Hiến Thành, Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội hiện chưa xác định được đối tượng thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Lead màu nâu, BKS: 30N6-6xxx, số khung: 081846 và số máy: 04176xx nên cơ quan điều tra công an quận Hai Bà Trưng đã ra Quyết định tách vụ án hình sự “Trộm cắp tài sản” để tiếp tục điều tra, xác minh giải quyết.

Đi với Lã Mạnh H2, quá trình điều tra H2 khai khi giao dịch với H qua điện thoại để mua chiếc xe máy Honda Lead chỉ thỏa thuận về giá cả và được H cho biết là xe không có giấy tờ. H chưa giao xe cho H2 vì H2 chưa giao đủ tiền cho H. Lời khai của H2 phù hợp với lời khai của H nên không đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H2. Số tiền 1.400.000 đồng H2 đưa cho T1, H2 không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xét.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Đỗ Đắc T2, Nguyễn Ngọc T1 và Nguyễn Thị H phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có ”.

- Về hình phạt: Căn cứ vào Điều 323 khoản 1; Điều 51 khoản 1 điểm s; Điều 52 khoản 1 điểm h Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Đỗ Đắc T2 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2018.

Xử phạt: Nguyễn Ngọc T1 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2018.

Căn cứ Điều Điều 323 khoản 2 điểm đ; Điều 51 khoản 1 điểm s; Điều 56; Điều 58 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Nguyễn Thị H 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 54 tháng tù của Bản án số 440/2016/HSST ngày 15/11/2016 và Bản án số 186/2018/HSST ngày 03/7/2018 của TAND quận Đống Đa, buộc Nguyễn Thị H chấp hành hình phạt chung của 03 bản án là 90 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời gian tạm giữ 16 ngày (từ ngày 23/6/2016 đến ngày 28/6/2016 và từ ngày 17/12/2018 đến ngày 26/12/2018 ).

-Về xử lý vật chứng:n cứ Điều 47 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi bổ sung năm 2017:

Tch thu sung công số tang vật sau: 01 điện thoại di động Samsung màu trắng ( đã qua sử dụng, bị vỡ màn hình ) có số Imei1: 354797060596924; Imeil 2: 354798060596922 thu giữ của bị cáo H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh đen (đã qua sử dụng) có số Imei: 357342089140698 và số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của bị cáo T2.

Tch thu tiêu hủy: 01 chiếc ví giả da màu nâu và 01 bộ van phá khóa thu giữ của bị cáo T1.

Trả lại bị cáo T1 số tiền 207.000 đồng.

(Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 22 tháng 7 năm 2019, tang vật số 204/2019 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội và Giấy giao nộp tiền vào tài khoản ngày 29/3/2019).

-Về án phí: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 21 khoản 1 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án cùng danh mục kèm theo.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

-Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 khoản 1; Điều 332 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi bổ sung năm 2017.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.


19
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 140/2019/HS-ST ngày 20/08/2019 về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

Số hiệu:140/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Hai Bà Trưng - Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 20/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về