Bản án 141/2019/HS-ST ngày 10/09/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 141/2019/HS-ST NGÀY 10/09/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 10 tháng 9 năm 2019 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 142/2019/TLST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 168/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Tuấn Đ, sinh ngày 02/11/1993 tại tỉnh Nam Định; thường trú: Thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Đ, sinh năm 1965 và bà Trần Thị T, sinh năm 1976; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ ngày 06/5/2019; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị Hoàng A; địa chỉ: Xã H, huyện C, tỉnh Bình Phước (vắng mặt);

2. Bà Nguyễn Thị Yến T; địa chỉ: Đường H, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 05/5/2019, Lê Tuấn Đ sử dụng diện thoại di động liên lạc với một người tên T (không rõ lai lịch) hỏi mua ma túy để sử dụng. Theo thỏa thuận, Đ điều kiển xe máy mang biển số 93B1-149.68 đến khu vực cầu Lê Văn Sỹ, Quận 3 gặp Thái. Tại đây, Đ đưa cho T 2.000.000 đồng và nhận lại 01 gói nylon chứa ma túy tổng hợp. Sau khi sử dụng, khoảng 18 giờ 00, ngày 06/5/2019, Đ cất giấu số ma túy còn lại vào túi quần bên phải phía trước đang mặc và điều khiển xe máy đi mua đồ ăn, khi đến trước căn nhà số 121 Thống Nhất, Phường 11, quận Gò Vấp thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt giữ.

Bản Cáo trạng số 139/Ctr-VKS ngày 12/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Lê Tuấn Đ về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, trình bày lời luận tội, đánh giá tính chất, mức độ và hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị:

Tuyên bố bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;

Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo, tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu iphone và trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia.

Bị cáo không tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án khoan hồng vì đã nhận thức được hành vi sai phạm của mình và quyết tâm sửa chữa, không vi phạm pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Kiểm sát viên thực hiện hành vi, quyết định tố tụng, thu thập chứng cứ, tài liệu theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tiến hành tố tụng và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng, việc thu thập chứng cứ, tài liệu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về nội dung:

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt quả tang, vật chứng thu giữ và tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở xác định: Do nghiện ma túy nên vào ngày 05/5/2019, bị cáo sử dụng chiếc điện thoại di động hiệu Iphone liên lạc với một người tên T (không rõ lai lịch) để hỏi mua ma túy và hẹn gặp nhau tại khu vực cầu Lê Văn Sỹ, Quận 3. Tại đây, bị cáo đã mua một lượng ma trúy với số tiền là 2.000.000 đồng. Qua ngày 06/5/2019, bị cáo cất giấu số ma túy đã mua vào ngày 05/5/2019 vào túi quần bên phải phía trước đang mặc và điều khiển xe máy biển số 93B1-149.68 ra ngoài, khi đến trước địa chỉ số 121 đường Thống Nhất, Phường 11, quận Gò Vấp thì bị lực lượng công an kiểm tra, phát hiện số ma túy nêu trên và bắt giữ bị cáo.

Kết luận giám định số 1029/KLGĐ-H ngày 13/5/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh đối với tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong có chữ ký ghi tên Lê Tuấn Đ và hình dấu Công an Phường 11 là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,8331g (hai phẩy tám ba ba một gam), loại Ketamine. Do đó, hành vi của Lê Tuấn Đ đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội nghiêm trọng. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

[3] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ hình phạt.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử không áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

Số ma túy thu giữ của bị cáo là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy, chiếc điện thoại di động hiệu Iphone là phường tiện mà bị cáo dùng để liên lạc để mua má túy nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước, chiếc điện thoại di động hiệu Nokia do chưa chứng minh được dùng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo theo quy định tại khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với chiếc xe gắn máy biển số 93B1-149.68, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị Hoàng A, bà Hoàng A đã cho em gái là chị Nguyễn Thị Yến T mượn sử dụng, chị T cho bạn trai là bị cáo mượn để đi công việc. Việc bị cáo sử dụng chiếc xe làm phương tiện phạm tội chị T không biết nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã trả chiếc xe nêu trên cho bà Nguyễn Thị Hoàng A. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét thêm.

[6] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố Lê Tuấn Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Xử phạt Lê Tuấn Đ 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06 tháng 5 năm 2019.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu huỷ 01 gói bên trong chứa tinh thể không màu qua giám định là ma túy ở thể rắn, khối lượng 2,8331g, được niêm phong có chữ ký của giám định viên và cán bộ điều tra sau giám định, tịch thu, nộp ngân sách nhà nước chiếc điện thoại di động hiệu Iphone và trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại di động hiệu Nokia. (Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 74/LNKVC ngày 12/8/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


6
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 141/2019/HS-ST ngày 10/09/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:141/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Gò Vấp - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:10/09/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về