Bản án 14/2015/DSPT về đòi quyền sử dụng đất bị lấn chiếm và yêu cầu khôi phục đường thoát nước chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 14/2015/DSPT NGÀY 03/09/2015 VỀ ĐÒI QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT BỊ LẤN CHIẾM VÀ YÊU CẦU KHÔI PHỤC ĐƯỜNG THOÁT NƯỚC CHUNG

Ngày 03 tháng 9 năm 2015 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 59/2014/TL-DSPT ngày 23 tháng 9 năm 2014 do có kháng cáo của nguyên đơn đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2014/DSST ngày 09/05/2014 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 284/2015/QĐ-PT ngày 17 tháng 8 năm 2015 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Đỗ Khoa Cường, sinh năm 1951.

Trú tại: số 1, hẻm 233/27/56 tổ 49, Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, có mặt.

* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Duyên, sinh năm 1949.

Trú tại: số 501, đường Lạc Long Quân, phường Xuân La, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội, có mặt.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Lưu Quang Nhu - Văn phòng luật sư số VIII thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội, có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Ngọc Huỳnh, sinh năm 1971; hiện cư trú tại Bồ Đào Nha tại địa chỉ: Ruacarvalho Araujo số 5-C/Vesq, Moscavide (Portuguese).

2. Anh Nguyễn Trung Hiếu, sinh năm 1979; trú tại: số 501, đường Lạc Long Quân, phường Xuân La, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền của anh Huỳnh, anh Hiếu: Bà Nguyễn Thị Duyên, sinh năm 1949; trú tại: số 501, đường Lạc Long Quân, phường Xuân La, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.

3. Ông Đỗ Khoa Hường, sinh năm 1955; trú tại: Tập thể 256 Thụy Khuê, phường Thụy Khuê, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền của ông Hường: Ông Đỗ Khoa Cường, sinh năm 1951; trú tại: số 1, hẻm 233/27/56 tổ 49, Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

NHẬN THẤY

 * Theo đơn khởi kiện đề ngày 26/10/2009 và ngày 24/11/2009, các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Đỗ Khoa Cường trình bày: Năm 1987 ông và em trai là ông Đỗ Khoa Hường mua của ông Nguyễn Đức Cường (tức Nguyễn Đình Cường) một phần thửa đất có diện tích chung là 210m2 tại tổ 21, cụm 3, Xuân La, Tây Hồ, Hà Nội, phần của ông Đỗ Khoa Cường là 150m2, của ông Hường là 60m2. Phần đất của anh em ông có mặt tiền giáp đường Lạc Long Quân và có để lại 1 ngõ đi chung cho gia đình ông Đỗ Khoa Cường và ông Nguyễn Đình Cường, ngõ đi phía nam giap đất nhà ông Chúc có diện tích 30m2 (15m x 2m), hai bên đã hoàn thành thủ tục mua bán và giao nhận tiền bằng giấy tờ viết tay. Năm 1988, ông Cường đã làm thủ tục sang tên cho ông có xác nhận của UBND xã Xuân La với diện tích nhận chuyển nhượng là 150m2, phần đất còn lại ông Cường bán cho cụ Lê Thị Đường (mẹ ông Hùng). Thời điểm đó ông Nguyễn Đình Cường đến thương lượng với ông chia lại đất theo chiều dọc thửa đất để bán cho bà Đường được thuận tiện nhưng phương án chia đất theo chiều dọc thửa đất không thực hiện được do vướng vào phần nhà xây của Nguyễn Đình Cường mà các bên không thỏa thuận được. Gia đình ông vẫn sử dụng phần diện tích đất mua ban đầu với ông Nguyễn Đình Cường năm 1987-1988.

Năm 1991 ông đồng ý mở rộng ngõ cho ông Hùng lên 4m và ông Hùng phải bù cho ông thêm 6m2 đất. Diện tích đất nhà ông là 156m2 và ông Nguyễn Đình Cường đã làm giấy bàn giao đất cho gia đình ông và gia đình cụ Đường.

Quá trình sử dụng đất, gia đình ông và gia đình cụ Đường không thường xuyên ở nên bị hai bên hàng xóm là gia đình ông Chúc và gia đình bà Nguyệt lấn chiếm.

Năm 1994 Sở địa chính cùng UBND phường Xuân La tiến hành kiểm kê đo đạc và lập bản đồ địa chính, đã tách đất nhà ông và nhà ông Hùng thành 2 thửa, thửa nhà ông do ông đứng tên là thửa số 9 diện tích 185m2 và nhà ông Hùng thửa số 10 diện tích 174m2.

 Sau khi mua đất do chưa có nhu cầu làm nhà nên gia đình ông cứ để đất như vậy. Khi gia đình ông Hùng bà Duyên làm nhà, đã tự ý đập phá tường bao hai phía giáp nhà ông và xây dựng lấn chiếm đất nhà ông diện tích là 22,8m2 đất. Vì vậy diện tích đất của hai anh em ông chỉ còn 162,2m2, ngoài ra hệ thống cống thoát nước của gia đình ông cũng bị phá hủy và lấn chiếm để xây dựng khoảng 2,4m2, hệ thống cống thoát nước phía Bắc giáp đất nhà cô Nguyệt chạy ra ngoài mương của xã Xuân La.

Năm 2008 Nhà nước mở rộng đường Lạc Long Quân, ông và ông Hường bị Nhà nước thu hồi đền bù giải phóng mặt bằng là 64,5m2. Diện tích đất thực tế hiện nay còn 97,8m2.

Diện tích đất của gia đình ông hiện chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Nay ông có 2 yêu cầu đối với bị đơn :

- Yêu cầu gia đình ông Hùng bà Duyên phải bồi thường thiệt hại bằng đất trả lại cho gia đình ông phần đất có diện tích là: (0,2m x 23m) + (2,6m x 7m) = 22,8m2

- Yêu cầu gia đình ông Hùng bà Duyên phải khôi phục hệ thống thoát nước chung có diện tích là 0,2m x 12m = 2,4m2 chạy dọc theo tường giáp đất nhà bà Nguyệt, nhà ông Hùng để dùng chung cho cả 2 gia đình. Hệ thống thoát nước chung này được xác lập khi ông và bà Đường (mẹ ông Hùng) mua đất của ông Nguyễn Đình Cường .

* Bị đơn bà Nguyễn Thi Duyên (bà Duyên còn là đại diện cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Huỳnh và anh Hiếu - con bà Duyên) trình bày tại bản tự khai và các văn bản tố tụng khác như sau: Năm 1988 mẹ chồng bà là cụ Lê Thị Đường và chồng bà là ông Nguyễn Văn Hùng mua của ông Nguyễn Đình Cường 240m2 đất tại tổ 21, cụm 3, Xuân La, Tây Hồ, Hà Nội. Trên đất có 3 gian nhà đang xây dở, việc mua bán có xác nhận của chính quyền địa phương. Gia đình ông Đỗ Khoa Cường cũng mua của ông Nguyễn Đình Cường diện tích 130m2 đất liền kề với đất của gia đình bà.

Năm 1996 gia đình bà xây nhà, trước khi xây nhà; gia đình bà có mua lại của gia đình bà Nguyệt 44m2 đất có chiều dài 11m, chiều rộng 4m liền với phía sau đất đã mua của gia đình ông Nguyễn Đình Cường. Việc mua bán giữa gia đình bà và gia đình bà Nguyệt có giấy viết tay, không qua chính quyền xác nhận.

Năm 2007 thực hiện chủ trương mở rộng mặt đường Lạc Long Quân và sau nhiều lần địa chính phường Xuân La đến đo đất để giải phóng mặt bằng thì chính thức diện tích đất của gia đình bà là 222,8m2. Diện tích đất gia đình bà bị thu hồi để giải phóng mặt bằng là 37,64m2. Hiện nay diện tích đất còn lại là 185,16m2. Gia đình bà không lấn chiếm đất của gia đình ông Cường và diện tích đất của gia đình bà cũng thiếu so với diện tích mua ban đầu. Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Khoa Cường đòi 22,8m2 đất. Về yêu cầu khôi phục đường thoát nước chung của nguyên đơn là không có cơ sở, vì đường thoát nước đó thuộc diện tích đất của gia đình bà mua, khi mua đất đó chưa mở đường Lạc Long Quân nên gia đình bà cho gia đình ông Cường thoát nước nhờ để chảy ra mương nước phía sau thửa đất mua của ông Nguyễn Đình Cường, nay thực tế đất ông Đỗ Khoa Cường sử dụng giáp đường Lạc Long Quân được Nhà Nước mở rộng nên đường nước thải thẳng ra hệ thống thoát nước công cộng rất thuận tiện, không cần thiết phải thoát nước qua đất của nhà bà nữa, bà không nhất trí yêu cầu này của nguyên đơn.

Ngày 10/7/2013 bà Duyên có đơn phản tố đề nghị ông Đỗ Khoa Cường phải chuyển đường tiêu nước thải ra hệ thống tiêu thoát nước công cộng để khắc phục tình trạng gây ô nhiễm cho gia đình bà vì hiện tại gia đình ông Cường có bể phốt nhà vệ sinh và hố ga chứa nước thải giáp tường nhà bà không đảm bảo vệ sinh môi trường, nước thải rò rỉ chảy sang nhà bà gây ô nhiễm nặng. Ngày 03/12/2013, bà Duyên có đơn tự nguyện xin rút yêu cầu phản tố và đề nghị Tòa đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố của bà.

Bà Duyên đề nghị Tòa xem xét giải quyết các tranh chấp trong vụ án theo quy định của pháp luật để đảm bảo ổn định việc sử dụng nhà đất hợp pháp cho các bên như hiện trạng.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Đỗ Khoa Hường trình bày tại bản tự khai ngày 10/3/2010: Năm 1987 ông và anh trai ông là ông Đỗ Khoa Cường có mua của ông Nguyễn Đình Cường tổng cộng 210m2 đất, diện tích đất của ông là 60m2 ở phía trước giáp đường Lạc Long Quân. Sau khi mua đất ông Cường vẫn sử dụng, ông Cường xây hai gian cửa hàng để cho thuê bán vật liệu xây dựng mỗi nhà một gian, hàng tháng anh trai ông giao tiền thuê nhà cho ông. Năm 2007, Nhà nước mở đường Lạc Long Quân đã lấy phần đất của ông và ông Cường đã làm thủ tục nhận số tiền bồi thường là 960.000.000 đồng, số tiền này ông Cường đã giao lại cho ông. Do điều kiện công tác ở xa nên ông ủy quyền cho anh trai là Đỗ Khoa Cường tham gia giải quyết mọi công việc liên quan tại UBND phường Xuân La, Ban quản lý dự án đường Lạc Long Quân và tại Tòa án.

- Anh Nguyễn Ngọc Huỳnh (con bà Duyên) trình bày tại giấy ủy quyền ngày 26/5/2011, anh ủy quyền cho bà Duyên giải quyết tranh chấp trong vụ án cho đến khi kết thúc.

- Anh Nguyễn Trung Hiếu (con bà Duyên) trình bày tại bản tự khai ngày 25/6/2010: Bố anh là ông Hùng đã chết năm 2009, nhà đất tại Xuân La do bố mẹ anh mua của ông Cường năm 1988, nay chưa được cấp giấy chứng nhận vì kiện cáo của ông Cường. Bố mẹ anh chỉ có 2 người con là anh và anh Nguyễn Ngọc Huỳnh hiện ở Bồ Đào Nha. Tại giấy ủy quyền ngày 15/7/2011 lập tại Văn phòng công chứng Thủ đô anh Hiếu ủy quyền cho bà Duyên giải quyết tranh chấp trong vụ án cho đến khi kết thúc.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2014/DSST ngày 09/5/2014 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định:                     

Áp dụng các Điều 192, 193, 218, 243, 245 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 255, 256, 261, 273, 274, 277, 279 Bộ luật dân sự;

Áp dụng các Điều 50, 107, 136 Luật đất đai;

Căn cứ Điều 24, khoản 1 Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009.

Xử:

1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị Duyên về việc yêu cầu ông Đỗ Khoa Cường phải chuyển đường tiêu nước thải ra hệ thống tiêu thoát nước công cộng khắc phục ô nhiễm cho gia đình bà do bà Nguyễn Thị Duyên đã tự nguyện xin rút yêu cầu phản tố.

2. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Đỗ Khoa Cường đối với bị đơn là bà Nguyễn Thị Duyên về việc kiện đòi diện tích đất là 22,8 m2 nằm tại thửa đất gia đình bà Duyên (gồm bà Nguyễn Thị Duyên anh Nguyễn Ngọc Huỳnh, anh Nguyễn Trung Hiếu) đang quản lý sử dụng tại địa chỉ số 501 đường Lạc Long Quân, phường Xuân La, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.

Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Đỗ Khoa Cường đối với bị đơn là bà Nguyễn Thị Duyên về việc kiện đòi khôi phục hệ thống cống thoát nước mà ông Cường cho rằng thuộc quyền sở hữu sử dụng chung của ông Cường và ông Đỗ Khoa Hường nằm tại thửa đất do gia đình bà Duyên (gồm bà Nguyễn Thị Duyên, anh Nguyễn Ngọc Huỳnh, anh Nguyễn Trung Hiếu) đang quản lý sử dụng tại điạ chỉ số 501 Lạc Long Quân, Phường Xuân La, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.

3. Không xem xét yêu cầu bổ sung của ông Đỗ Khoa Cường tại phiên tòa về việc yêu cầu gia đình bà Nguyễn Thị Duyên bồi thường thiệt hại tường rào bị phá dỡ do yêu cầu bổ sung của ông Đỗ khoa Cường vượt quá yêu cầu khởi kiện.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 14/5/2014, nguyên đơn là ông Đỗ Khoa Cường có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn ông Đỗ Khoa Cường vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, cũng như yêu cầu kháng cáo, ông Cường thay đổi lời khai thực tế ông Hường không mua đất của ông Nguyễn Đình Cường và việc ông Cường viết giấy bán đất và xác nhận vào giấy bán đất cho ông Hường là do ông nhờ xác nhận hộ. Việc chuyển nhượng đất giữa ông và ông Nguyễn Đình Cường đã làm đầy đủ các thủ tục chuyển nhượng và hợp pháp, còn việc bị đơn mua 174m2 đất của ông Nguyễn Đình Cường và mua của bà Nguyệt 44m2 là không hợp pháp. Khi gia đình ông Hùng, bà Duyên làm nhà đã tự ý đập phá tường bao hai phía giáp nhà ông và lấn chiếm đất nhà ông với diện tích 22,8m2 đất, ngoài ra còn lấn chiếm diện tích cống thoát nước của gia đình ông với diện tích 2,4m2. Tòa án cấp sơ thẩm khi giải quyết vụ án đã bỏ lọt nhiều chứng cứ quan trọng, có lợi cho bị đơn như có xác nhận của chủ đất về đường cống thoát nước, việc bị đơn đập phá đường ông thoát nước khi xây dựng chủ đất cũng có ý kiến nhưng Tòa án sơ thẩm không xem xét. Ngoài ra,  khi giải quyết cấp sơ thẩm không thẩm định tại chỗ, không cho các bên đương sự đối chất với nhau, việc thu thập chứng cứ không đầy đủ. Do đó, đề nghị hủy Bản án sơ thẩm để xét xử lại.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Duyên và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: năm 1988 gia đình bà mua của ông Nguyễn Đình Cường 240m2 đất, việc mua bán có xác nhận của chính quyền địa phương. Năm 1996, gia đình bà xây nhà, trước khi xây nhà gia đình bà có mua lại của gia đình bà Nguyệt 44m2 đất liền với phía sau đất đã mua của gia đình ông Nguyễn Đình Cường. Việc nguyên đơn khai bị lần chiếm đất nhưng diện tích đất hiện tại còn thừa ra 16,5m2 so với diện tích bỏ tiền ra mua của chủ cũ. Về rãnh nước là rãnh nước dùng chung khi chủ đất giao cho hai hộ năm 1991 chứ không phải giao riêng cho gia đình nguyên đơn. Nên việc Tòa án cấp sơ thẩm quyết định như trên là đúng pháp luật, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án như sau: Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm đã thực hiện đầy đủ và đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: việc ông Đỗ Khoa Cường đòi bà Nguyễn Thị Duyên phải trả 22,8m2 đất mà nguyên đơn cho rằng thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn đã kê khai, đứng tên trong bản đồ địa chính năm 1994 do bị đơn lấn chiếm. Theo các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện ông Đỗ Khoa Hường mua của ông Nguyễn Đình Cường 60m2 đất trong cùng thửa đất đã bán cho ông Đỗ Khoa Cường năm 1987, ông Cường xuất trình giấy bán đất viết tay ngày 10/2/1987 và giấy viết tay ngày 10/8/1988 do ông Nguyễn Đình Cường và ông Hường ký nhưng không có người làm chứng, không có xác nhận của chính quyền địa phương. Ngày 24/2/2014 ông Nguyễn Đình Cường xác nhận việc lập giấy bán cho ông Hường 60m2 đất là do ông Cường nhờ ký xác nhận để ông Cường tách cho ông Hường trong diện tích đất mua của ông là 150m2 chứ không phải mua bán thực tế với ông Hường. Như vậy, diện tích đất ông Cường nhận chuyển nhượng chỉ có 150m2 chứ không thể có 2 mảnh liền kề nhau để cộng thành 210m2 như ông Cường khai.

Mặt khác, khi giải phóng mặt bằng mở đường Lạc Long Quân, theo hồ sơ UBND quận Tây Hồ cung cấp và theo biên bản xem xét hiện trạng ngày 12/12/2013 các bên xác nhận diện tích đất ông Cường sử dụng là 100,73m2, như vậy so với diện tích đất mua của ông Nguyễn Đình Cường thì diện tích ông Cường đang sử dụng thừa gần 10m2, trong khi đó diện tích đất của bà Duyên đang sử dụng lại ít hơn diện tích đất mua từ chủ cũ. Do đó, việc ông Đỗ Khoa Cường cho rằng gia đình bà Nguyễn Thị Duyên lấn chiếm đất của ông và em ông là không có căn cứ chấp nhận.

Về yêu cầu nguyên đơn buộc bị đơn phải khôi phục hệ thống thoát nước chung có diện tích 2,4m2 . Tại phiên tòa nguyên đơn đã thay đổi lời khai đối với yêu cầu khởi kiện này, ông Cường cho rằng thuộc quyền sở hữu, sử dụng chung của ông với ông Hường, không phải của chung gia đình ông với gia đình bà Duyên như khi ông khởi kiện ban đầu. Theo quy định của pháp luật thì đó là quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề được quy định tại Điều 274, 277 Bộ luật dân sự năm 2005. Nay cũng không cần thiết phải khôi phục việc sử dụng hạn chế bất động sản liền kề là quyền thoát nước đó cho ông Đỗ Khoa Cường vì hiện nay gia đình ông Cường có đường thoát nước ra đường ống công cộng chính tại đường Lạc Long Quân.

Đối với yêu cầu bổ sung của ông Đỗ Khoa Cường tại phiên tòa về việc yêu cầu gia đình bà Duyên bồi thường thiệt hại tường rào bị phá dỡ. Do yêu cầu bổ sung này vượt quá yêu cầu khởi kiện nên cấp phúc thẩm không xem xét. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ để chứng minh cho việc kháng cáo là có căn cứ, hợp pháp, quyết định Bản án sơ thẩm là đúng pháp luật. Do đó, không có căn cứ chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; lời trình bày, tranh luận của các đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm;

XÉT THẤY:

Xét kháng cáo của nguyên đơn với nội dung nêu trên, Hội đồng xét xử thấy:

* Đối với yêu cầu của nguyên đơn cho rằng bị đơn đã lấn sang phần đất thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn với diện tích 22,8m2 đất, yêu cầu bị đơn phải trả lại. Đối với yêu cầu này, nguyên đơn cho rằng nguồn gốc đất mà gia đình ông quản lý sử dụng tại số 503 Lạc Long Quân là do ông và em trai ông là ông Đỗ Khoa Hường mua chung của ông Nguyễn Đình Cường năm 1987-1988, ông mua 150m2 và ông Hường mua 60m2, tổng cộng là 210m2. Yêu cầu này của nguyên đơn đã trình bày trong đơn khởi kiện và được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, quyết định.

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Tại giấy bán đất viết tay ngày 10/02/1987 và Giấy bán đất viết tay ngày 10/8/1988 do chủ cũ ông Nguyễn Đình Cường và ông Đỗ Khoa Hường ký trong đó có nội dung: ông Nguyễn Đình Cường xác nhận đã bán cho ông Đõ Khoa Hường 60 m2 đất với giá 30.000 đồng và đã nhận đủ tiền, các giấy tờ đó không có người làm chứng, không có xác nhận của chính quyền địa phương. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác minh lấy ý kiến trực tiếp ông Nguyễn Đình Cường, tại biên bản làm việc ngày 24/2/2014 ông Cường cung cấp: giấy bán đất viết tay ngày 10/02/1987 có nội dung xác nhận bán đất cho ông Đỗ Khoa Hường (em ông Đỗ Khoa Cường) 60m2 đất là do ông Cường nhờ ông ký xác nhận lại để ông tách cho ông Hường trong diện tích đất đã mua của ông là 150m2 chứ không phải là ông giao dịch mua bán trực tiếp với ông Hường. Ngày 10/8/1988 ông có viết giấy bán đất cho ông Hường nhưng thực tế là ông không bán đất cho ông Hường mà chỉ bán cho ông Cường; Lời khai xác nhận của ông Nguyễn Đình Cường phù hợp với sự thay đổi lời khai của nguyên đơn tại phiên tòa phúc thẩm; ngày 06/9/1991 ông có ký giấy bàn giao đất trong đó ông có ký bàn giao cho ông Đỗ Khoa Cường 156m2 đất và bà Lê Thị Đường 174m2 và có ghi là một rãnh thoát nước dùng chung, không có việc bàn giao đất cho ông Hường.

Tại giấy bàn giao đất ngày 06/1/1991 cho các bên nhận chuyển nhượng, trong giấy chỉ thể hiện giao toàn bộ diện tích đất chủ cũ là 330m2 cho gia đình ông Hùng 174m2 và giao cho ông Cường 156m2, ngoài ra không còn diện tích đất nào khác và không thể hiện việc ông Nguyễn Đình Cường giao đất cho ông Đỗ Khoa Hường. Mặt khác, khi giải phóng mặt bằng mở rộng đường Lạc Long Quân, Nhà nước thu hồi đất có làm các thủ tục đền bù thì ông Đỗ Khoa Hường cũng không có hồ sơ kê khai nào để nhận tiền đền bù mà chỉ có mình ông Cường, là anh trai ông Hường tiến hành làm thủ tục và nhận tiền đền bù giải phóng mặt bằng. Như vậy, về căn cứ pháp lý và thực tế đều không có cơ sở để xác định ông Hường có mua 60m2 đất của chủ cũ như nguyên đơn và ông Hường đã khai, mà đất của ông Đỗ Khoa Cường sử dụng tại số 503 Lạc Long Quân chỉ có một phần diện tích đất ông nhận chuyển nhượng từ chủ cũ là 150m2 đất theo văn bản lập ngày 15/4/1988 có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường Xuân La.

Ngoài ra, theo hồ sơ, sơ đồ do UBND quận Tây Hồ cung cấp: khi giải phóng mặt bằng mở đường Lạc Long Quân năm 2007 có xác định thực tế hiện trạng đất của gia đình ông Đỗ Khoa Cường có diện tích là 162,3m2, khi mở đường nhà nước đền bù lấy vào 64,5m2 đất, diện tích còn lại sau mở đường là 97,8m2.

Theo biên bản xem xét hiện trạng ngày 12/12/2013 các bên xác nhận số đo diện tích đất ông Cường đang sử dụng theo đo vẽ ngày 24/6/2013 của Công ty tư vấn thiết kế khảo sát đo đạc và bản đồ tiến hành vẫn giữ nguyên hiện trạng, diện tích đang sử dụng là 100,73m2 và đo thực tế thì có cạnh chiều rộng thửa đất tiếp giáp diện tích đất gia đình bà Duyên là 6,96m (chưa tính khe hở 6cm giáp tường nhà bà Duyên). Như vậy, diện tích đất hiện nay còn 100,73m2, cộng với diện tích đã nhận đền bù, giải phóng mặt bằng là 64,5m2 thì tổng diện tích là 165,23m2, so với diện tích ông Cường nhận chuyển nhượng từ chủ cũ năm 1987-1988 thì thừa 15,23m2. Trong khi đó diện tích đất thực tế của gia đình bà Duyên, khi giải phóng mặt bằng năm 2007 xác định là 222,8m2. Còn theo kết quả do Công ty TNHH một thành viên địa chính Hà Nội đo vẽ ngày 05/10/2011 và đã được Tòa sơ thẩm xem xét hiện trạng thì diện tích thực tế của gia đình bà Duyên chỉ là 221,34m2 đất. Với diện tích thực tế nêu trên vẫn ít hơn diện tích đất mua từ chủ cũ năm 1988 (khi mua là 240m2).

Mặt khác, tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn cũng không cung cấp được chứng cứ để chứng minh bị đơn lấn chiếm đất của gia đình ông và nguyên đơn cũng công nhận là làm nhà trước và phía sau nhà vẫn còn một khoảng đất để trống, còn bị đơn làm nhà sau. Nguyên đơn và bị đơn cũng khẳng định giữa nhà của nguyên đơn với nhà của bị đơn có một khe hở nhưng không bên nào công nhận phần đất tại khe hở giữa hai nhà là thuộc quyền sở hữu của mình (BL 309).

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh việc bị đơn lấn chiếm của nguyên đơn 22,8m2 đất. Do đó, Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu trên của nguyên đơn.

* Đối với yêu cầu bị đơn khôi phục hệ thống thoát nước chung có diện tích là 2,4m2. Tại đơn khởi kiện nguyên đơn trình bày đây là đường thoát nước chung của gia đình ông với gia đình bà Duyên. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn thay đổi lời khai đối với yêu cầu khởi kiện này và cho rằng đường nước thải thoát qua đường cống nước trước đây là rãnh nước giáp đất nhà bà Nguyệt là thuộc quyền sử dụng chung của ông và em ông là ông Hường, không phải của chung gia đình ông và gia đình bà Duyên như khi ông khởi kiện ban đầu. Đối với yêu cầu này, Hội đồng xét xử thấy: Như đã phân tích ở trên không có căn cứ xác định là ông Nguyễn Đình Cường bán cho ông Hường diện tích đất trên 60m2 ở cùng thửa đất với ông Đỗ Khoa Cường đã mua của ông Nguyễn Đình Cường. Mặt khác, tại biên bản xem xét hiện trường ngày 12/12/2013 của Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện thì trên phần đất có tranh chấp chỉ có nhà của nguyên đơn, với nhà của bị đơn mà không có nhà của ông Đỗ Khoa Hường. Việc ông Đỗ Khoa Cường cho rằng là giấy bàn giao đất năm 1991 của chủ cũ cho 2 gia đình ông và gia đình cụ Đường, ông Hùng có nêu về rãnh thoát nước là không có căn cứ vì giấy bàn gia đất đó không thể hiện có cống thoát nước thuộc sở hữu riêng của nguyên đơn, mà chỉ ghi có rãnh thoát nước trong phần diện tích đất giao cho cụ Đường để dùng chung cho ông Cường và cụ Đường.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ để chứng minh là bị đơn đã làm nhà trên đường thoát nước chung giữa gia đình ông với gia đình ông Đỗ Khoa Hường nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu trên của nguyên đơn.

* Đối với yêu cầu bị đơn phải bồi thường thiệt hại đối với bức tường mà bị đơn phá dỡ. Hội đồng xét xử thấy: Trong đơn khởi kiện ngày 26/10/2009 và ngày 24/11/2009 thì không có nội dung yêu cầu giải quyết bồi thường thiệt hại đối với bức tường do bị đơn phá bỏ, mà đây là yêu cầu mới được bổ sung tại phiên tòa sơ thẩm nhưng cũng không có tài liệu chứng cứ nào xuất trình để chứng minh cho yêu cầu bồi thường đó. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định yêu cầu này của nguyên đơn là vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu nên không xem xét là có căn cứ pháp luật.

* Đối với việc Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn: sau khi Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý vụ án thì ngày 10/7/2010 bị đơn có đơn phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đến ngày 02/12/2013 bị đơn có đơn xin rút yêu cầu phản tố. Xét thấy việc bị đơn rút yêu cầu phản tố là tự nguyện, phù hợp quy định của pháp luật, nên Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ đối với yêu cầu phản tố của bị đơn là có căn cứ.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, cần giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên tòa là đúng.

- Về án phí: Nguyên đơn kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Án phí dân sự sơ thẩm được giữ nguyên.

Vì các lẽ trên; căn cứ khoản 1 Điều 275 Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn là ông Đỗ Khoa Cường. Giữ nguyên quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2014/DSST ngày 09/5/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

 Áp dụng các Điều 261, 273, 274, 277 và 279 Bộ luật dân sự;

Áp dụng các Điều 50, 107, 136 Luật đất đai sửa đổi, bổ sung năm 2009;

Căn cứ Điều 24, khoản 1 Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009.

Xử:

1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị Duyên về việc yêu cầu ông Đỗ Khoa Cường phải chuyển đường tiêu nước thải ra hệ thống tiêu thoát nước công cộng khắc phục ô nhiễm cho gia đình bà do bà Nguyễn Thị Duyên tự nguyện xin rút yêu cầu phản tố.

2. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Đỗ Khoa Cường đối với bị đơn là bà Nguyễn Thị Duyên về việc kiện đòi diện tích đất là 22,8 m2 nằm tại thửa đất của gia đình bị đơn bao gồm bà Nguyễn Thị Duyên anh Nguyễn Ngọc Huỳnh, anh Nguyễn Trung Hiếu đang quản lý sử dụng tại địa chỉ số 501 đường Lạc Long Quân, phường Xuân La, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.

- Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Đỗ Khoa Cường đối với bị đơn là bà Nguyễn Thị Duyên về việc kiện đòi khôi phục hệ thống cống thoát nước mà ông Đỗ Khoa Cường cho rằng thuộc quyền sở hữu sử dụng chung của ông Cường và ông Đỗ Khoa Hường nằm tại thửa đất do gia đình bà Duyên gồm bà Nguyễn Thị Duyên, anh Nguyễn Ngọc Huỳnh, anh Nguyễn Trung Hiếu đang quản lý sử dụng tại điạ chỉ số 501 Lạc Long Quân, Phường Xuân La, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.

3. Không xem xét yêu cầu bổ sung của ông Đỗ Khoa Cường tại phiên tòa sơ thẩm về việc yêu cầu gia đình bà Nguyễn Thị Duyên bồi thường thiệt hại tường rào bị phá dỡ do yêu cầu bổ sung của ông Đỗ khoa Cường vượt quá yêu cầu khởi kiện.

* Về án phí: Giữ nguyên quyết định về án phí dân sự sơ thẩm.

- Nguyên đơn ông Đỗ Khoa Cường phải chịu 200.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 9.200.000 đồng mà ông Đỗ Khoa Cường đã nộp theo biên lai thu tiền số 001153 ngày 09/12/2009 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.

- Hoàn trả bị đơn bà Nguyễn Thị Duyên 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 009325 ngày 29/8/2013 tại Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.

- Ông Đỗ Khoa Cường phải chịu 200.000 đồng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm. Được trừ số tiền 200.000 đồng mà ông Đỗ Khoa Cường đã nộp tiền tạm ứng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm theo biên lai thu tiền số AB/2010/0009667 ngày 03/6/2014 tại Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


68
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 14/2015/DSPT về đòi quyền sử dụng đất bị lấn chiếm và yêu cầu khôi phục đường thoát nước chung

Số hiệu:14/2015/DSPT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:03/09/2015
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về