Bản án 14/2018/DS-ST ngày 11/06/2018 về tranh chấp thực hiện nghĩa vụ dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN

BẢN ÁN 14/2018/DS-ST NGÀY 11/06/2018 VỀ TRANH CHẤP THỰC HIỆN NGHĨA VỤ DÂN SỰ

Ngày 11 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 120/2017/TLST-DS ngày 18 tháng 12 năm 2017 về việc: “Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ dân sự”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 13/2018/QĐ-ST ngày 04 tháng 5 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa sơ thẩm số 07/2018/QĐ-ST ngày 23 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị L, sinh năm: 1967 (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn 2, Sơn Mỹ, Hàm Tân, Bình Thuận.

2. Bị đơn: Ông Bùi Văn B, sinh năm: 1971 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn 2, Sơn Mỹ, Hàm Tân, Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Nguyên đơn bà Hoàng Thị L trình bày: Bà làm nghề thu mua nông sản, muốn có nguồn hàng để mua, bà thường ứng tiền trước và bán phân bón cho nông dân. Sau đó, những người này thu hoạch và bán lại nông sản cho bà. Tháng 3/2018, bà có đầu tư thuốc trừ sâu, phân bón và ứng tiền cho ông Bùi Văn B, cụ thể:

+ Tiền mượn để chuẩn bị trồng mì là 53.600.000 đồng;

+ Tiền đầu tư phân, thuốc là 79.640.000 đồng;

+ Tiền mượn để chi phí cho việc khai thác mì là 19.700.000 đồng;

Tổng số tiền ông Bờ nợ của bà là 152.940.000 đồng. Sau khi thu hoạch mì, ông B có trả cho bà số tiền 61.480.000 đồng, còn nợ lại số tiền 91.460.000 đồng. Số tiền này bà có đòi nhiều lần nhưng ông B không chịu trả.

Bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông B phải trả cho bà số tiền91.460.000 đồng, không yêu cầu lãi suất.

- Bị đơn ông Bùi Văn B: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt để giải quyết.

Tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HàmTân cho rằng:

- Việc tuân theo pháp luật từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm: Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự; Thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật, tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng là phù hợp quy định pháp luật; Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử thực hiện đúng phiên tòa sơ thẩm; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đương sự đã thực hiện theo quy định.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông B phải trả cho bà L số tiền 91.460.000 đồng. Ông B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đơn khởi kiện, thẩm tra các chứng cứ và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:

 [1] Về thủ tục tố tụng:

- Bà Hoàng Thị L khởi kiện ông Bùi Văn B về việc “Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ dân sự”. Ông B có địa chỉ tại thôn 2, Sơn Mỹ, Hàm Tân, Bình Thuận. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Bị đơn ông Bùi Văn B đã được triệu tập hợp lệ xét xử đến lần thứ hai nhưng vắng mặt. Căn cứ vào khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành giải quyết theo thủ tục chung.

 [2] Về nội dung:

- Ông B không có mặt để giải quyết vụ án này, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ rất nhiều lần. Việc vắng mặt này của ông B được coi là từ bỏ quyền lợi và nghĩa vụ hợp pháp của mình.

- Xét chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp về các giao dịch giữa bà L với ông B, thể hiện ông B còn thiếu bà Lệ số tiền 109.460.000 đồng. Việc thiếu tiền này có xác nhận của ông B. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà L chỉ yêu cầu ông B trả cho bà số tiền 91.460.000 đồng vì cho rằng trong số tiền này, bà có tính tiền lãi cho ông B với số tiền 18.000.000 đồng, nên chỉ yêu cầu ông B trả cho bà 91.460.000 đồng. Việc bà L chỉ yêu cầu ông B chỉ trả số tiền 91.460.000 đồng là có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà B cũng như ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân.

- Lãi suất: Bà B không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

 [3] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên bà L không phảichịu án phí dân sự sơ thẩm. Ông B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 280, 281, 286, 290, 302 Bộ luật Dân sự 2005; Điều 274, 275, 280, 357, 688 Bộ luật Dân sự 2015;

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị L. Buộc ông Bùi Văn B phải trả cho bà Hoàng Thị L số tiền 91.460.000 (Chín mươi mốt triệu bốn trăm sáu mươi nghìn) đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

2. Án phí:

- Bà Hoàng Thị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho bà L số tiền 2.286.000 đồng tạm ứng án phí theo Biên lai số 0016570 ngày 18/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân.

- Ông Bùi Văn B phải chịu 4.573.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được hoặc niêm yết công khai bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


97
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 14/2018/DS-ST ngày 11/06/2018 về tranh chấp thực hiện nghĩa vụ dân sự

Số hiệu:14/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hàm Tân - Bình Thuận
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:11/06/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về