Bản án 14/2018/HS-ST ngày 06/09/2018 về tội chứa mại dâm

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH

BẢN ÁN 14/2018/HS-ST NGÀY 06/09/2018 VỀ TỘI CHỨA MẠI DÂM

Ngày 06 tháng 9 năm 2018, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2018/TLST ngày 25/7/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2018/HSST ngày 24 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Kim N, tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 22/11/1979; Nguyên quán: Xã Xuân Y, Nghi Xuân, Hà Tĩnh; Nơi ĐKNKTT và trú tại: Thôn H, xã Xuân Y, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp; Kinh doanh nhà hàng. Trình độ văn hóa 9/12; Dân tộc: Kinh, Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Hải V, sinh năm 1956 và bà Trần Thị B, sinh năm 1957; Chồng: Trần Trọng H, sinh năm 1977; Con: có 02 con lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2003 

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 22/6/2018 đến nay có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1, Hoàng Văn M - Sinh năm 1981

Địa chỉ: Xã Thạch X, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh

Nghề nghiệp: Lái xe (vắng mặt).

2, Nguyễn Xuân H - Sinh năm 1995

Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh

Nghề nghiệp: Lao động tự do (vắng mặt)

3, Hà Thị N - Sinh năm 1997

Nơi ĐKNKTT: Bản L, xã M, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: Nhân viên nhà hàng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị Kim N sinh năm 1979 trú tại thôn H, xã Xuân Y, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh là chủ nhà hàng Xuân M tại bãi biển xã Xuân Yên. Nhà hàng được UBND huyện Nghi Xuân cấp phép kinh doanh dịch vụ ăn uống, giải khát bia rượu từ năm 2005 đến nay. Đầu tháng 6 năm 2018, N thuê Hà Thị N, sinh 1997 trú tại Bản L, xã Mường N, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An để phục vụ bưng bê đồ ăn cho khách, dọp dẹp nhà hàng đồng thời thỏa thuận với nhau khi nào khách có nhu cầu mua dâm (cho khách quan hệ tình dục để thu tiền) thì bán dâm cho khách.

Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 21/6/2018, Nguyễn Thị Kim N đang ở tại nhà hàng Xuân M thì có Nguyễn Xuân H sinh năm 1995 và Hoàng Văn M sinh năm 1981 đều trú tại xã T, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh đến mục đích tìm gái mại dâm để mua dâm. Gặp N, M hỏi” “Có con em mô không?” (ý nói có nhân viên bán dâm không), N nói “có”. M nói “Bọn e chỉ đi nhanh rồi về” rồi hỏi tiếp: “Đi nhanh giá bao nhiêu?” (ý nói mua dâm một lần giá bao nhiêu tiền), N trả lời: “Đi nhanh 150.000đ” ((ý nói mua dâm một lần 150.000đ) thì M và H đồng ý, M nói: “Bố trí cho hai con em” ( ý nói bố trí cho hai nhân viên mua dâm). N nói nhà hàng chỉ có một con em.

Do đó M nói: “vậy bố trí cho thằng em này trước” (ý nói N bố trí nhân viên bán dâm cho H) còn M ngồi đợi. N gọi nhân viên của nhà hàng là Hà Thị N ra nói “có khách” rồi chỉ vào H, N hiểu ý nên dẫn H vào phòng nghỉ thứ hai đánh số P2 để thực hiện quan hệ tình dục (hành vi mua bán dâm). Khi Hà Thị N và Nguyễn Xuân H đang thực hiện hành vi quan hệ tình dục được khoảng 10 phút (khoảng 20 giờ 10 phút cùng ngày) thì bị tổ công tác công an huyện Nghi Xuân kiểm tra, tiến hành lập biên bản và yêu cầu những đối tượng liên quan về trụ sở làm việc.

Vật chứng vụ án: 01 ruột bao cao su đã qua sử dụng, một vỏ bao cao su màu vàng nhãn hiệu Vip Plus.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Kim N khai ngoài lần chứa mại dâm cho N bị bắt quả tang như đã nêu trên thì N không chứa mại dâm lần nào khác.

Đối với Hà Thị N và Nguyễn Xuân H, Công an huyện Nghi Xuân đã xử phạt vi phạm hành chính 200.000đ /1 người về hành vi mua, bán dâm.

Bản cáo trạng số 11/CTr-VKSNX ngày 24/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Kim N về tội “Chứa mại dâm” theo khoản 1 Điều 327 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên trình bày lời luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 327 của Bộ luật hình sự 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim N từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng kể từ ngày 06/9/2018.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội lần đầu, không có nghề nghiệp đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 106 BLTTHS, điểm a, khoản 1 Điều 47 BLHS tuyên tịch thu tiêu hủy 01 ruột bao cao su đã qua sử dụng, một vỏ bao cao su màu vàng nhãn hiệu Vip Plus.

Hội đồng xét xử xét thấy lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhưng có đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo về điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo quá khó khăn là lao động chính trong gia đình có hai con một cháu mới đậu đại học còn một cháu đang nhỏ, nhà không có, chồng thì bỏ đi đâu không cùng bị cáo lo cho cuộc sống gia đình, bị cáo trước đây làm nhà hàng nhưng vì ở bãi biển Xuân Yên gần với khu du lịch Biển Xuân Thành nên rất ít khách du lịch nhân viên bị cáo mới thuê làm việc mới được mấy ngày thì do không có khách nhận thức còn hạn chế nên đã vi phạm pháp luật chưa được hưởng lợi nên xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có thể ở ngoài khắc phục lỗi lầm và mặt khác lo làm ăn lương thiện để nuôi dạy các con cái đang tuổi ăn học cần có sự chăm sóc của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Cơ quan điều tra Công an và Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[ 1.1] Tại phiên tòa vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án tuy nhiên sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xác định tội danh và quyết định hình phạt đối với bị cáo, tại hồ sơ đã có đủ lời khai do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt những người này.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên Tòa bị cáo Nguyễn Thị Kim N thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, thể hiện như sau: Khi biết khách có nhu cầu mua dâm, bị cáo N đã bố trí cho nhân viên của nhà hàng bán dâm cho khách tại nhà hàng do mình quản lý để thu lợi. Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 21/6/2018, N đã bố trí cho Hà Thị N, sinh năm 1997 trú tại Bản L, xã Mường N, huyện Quế Phong, Nghệ An là nhân viên của nhà hàng mình làm chủ bán dâm cho Nguyễn Xuân H tại phòng nghỉ thứ hai ký hiệu P2 nhà hàng Xuân M để thu lợi 150.000đ như đã thỏa thuận thì bị lực lượng cảnh sát Công an huyện Nghi Xuân phát hiện bắt quả tang.

[3] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên Tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt quả tang, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “ Chứa mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 327 BLHS năm 2015 “1. Người nào chứa mại dâm, thì bị phạt tù từ 01 đến 05 năm”. Do đó, Bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật không oan sai.

[4] Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ. Mại dâm là tệ nạn xã hội, gây suy giảm thuần phong mỹ tục, suy đồi đạo đức, là nguyên nhân gây ra các loại bệnh xã hội đặc biêt là căn bệnh thế kỷ HIV. Hiện nay loại tội này đã được cơ quan pháp luật xử lý nghiêm khắc những vẫn còn những người do lười biếng lao động, muốn kiếm tiền một cách dễ dàng nên bất chấp pháp luật để phạm tội. Trong vụ án này bị cáo là người đã thỏa thuận với người mua dâm đã giao kết với nhân viên bán hàng của mình để thực hiện hành vi chứa mại dâm để hưởng lợi bất chính bằng việc mua bán dâm của nhân viên và khách hàng gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm để giáo dục bị cáo trở thành một người có ích cho xã hội mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần và không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao cho chính quyền địa phương quản lý giám sát và giáo dục bị cáo theo quy định tại Điều 65 BLHS vì: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi của mình gây ra, bản thân là phụ nữ điều kiện hoàn cảnh gia đình rất khó khăn lại phải nuôi con một mình được chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú xác nhận và đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo vì vậy nên áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS và áp dụng Điều 65 BLHS xử cho bị cáo hình phạt từ nhưng cho hưởng treo nghĩ là đủ răn đe đối với bị cáo là đúng với quy định của pháp luật về sự khoan hồng của Nhà nước ta đối với bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu, nghề nghiệp thu nhập thấp nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo như quy định tại khoản 5 Điều 327 BLHS nghĩ là phù hợp.

[6] Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy 01 ruột bao cao su và 01 vỏ bao cao su nhãn hiệu Vip Plus màu vàng.

[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật và có quyền kháng cáo bản án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; điểm a, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Kim N phạm tội “Chứa mại dâm”.

2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Kim N 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 06/9/2018). Giao bị cáo cho ủy ban nhân dân xã Xuân Yên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cứ trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02(hai) lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy hủy 01 ruột bao cao su và 01 vỏ bao cao su nhãn hiệu Vip Plus màu vàng. (Vật chứng trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra và Cơ quan Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghi Xuân ngày 19/7/2018).

4. Buộc bị cáo Nguyễn Thị Kim N phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


98
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 14/2018/HS-ST ngày 06/09/2018 về tội chứa mại dâm

Số hiệu:14/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nghi Xuân - Hà Tĩnh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:06/09/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về