Bản án 14/2018/HS-ST ngày 19/04/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH

BẢN ÁN 14/2018/HS-ST NGÀY 19/04/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 19 tháng 04 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 18/2018/TLST - HS ngày 08/3/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2018/QĐXXST - HS ngày 05/04/2018 đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN D – Sinh năm 1978

Nơi cư trú: Xóm M, xã Hòa Bình, thành phố Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; Dân tộc: Mường; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S tên gọi khác Nguyễn Đức S (đã chết) và bà Bùi Thị S; có vợ và 01 con.

Tiền sự: Không. Tiền án: 02 tiền án

-  Ngày 24/9/2012 bị Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình xử phạt 20 tháng tù về tội Hủy hoại tài sản, thời hạn tính từ ngày 10/06/2012

-    Ngày 15/9/2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và Hủy hoại tài sản, thời hạn tính từ ngày 03/4/2015.

Nhân thân:

-    Năm 2004 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xử 03 năm tù về tội Cướp tài sản, thời hạn tù tính từ ngày 29/02/2004.

-    Năm 2008 bị Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, thời hạn tù tính từ ngày 11/01/2008

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/12/2017, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn D là đối tượng nghiện chất ma túy, khoảng 18 giờ ngày 05/12/2017 D thuê xe ôm đi từ nhà tại xóm M, xã Hòa Bình ra thành phố Hòa Bình, khi đến thành phố D gọi điện thoại cho một người đàn ông tên “D B” để mua ma túy, người này đồng ý và hẹn D đến khu vực nhà nghỉ Nam Hạnh, thuộc xóm 13, xã Sủ Ngòi. Dũng đi đến khu vực nhà nghỉ Nam Hạnh và gặp người đàn ông này, qua trao đổi D đưa 100.000đồng và người này đưa cho D một bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long bên trong có gói giấy màu vàng chứa ma túy. Có được ma túy D cầm trong lòng bàn tay trái để đi về, đi được một đoạn, vào khoảng thời gian 18 giờ 45 phút thì bị tổ công tác Đội CSĐT tội phạm về ma túy, Công an thành phố Hòa Bình kiểm tra, phát hiện bắt quả tang thu giữ 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu Thăng Long bên trong có một gói giấy màu vàng chứa ma túy và 01 chiếc điện thoại di động màu trắng nhãn hiệu Mobiistar, bên trong có 01 sim viettel.

Tại bản kết luận giám định số 02/KLGĐ - CAT- PC ngày 12/12/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì niêm phong bì niêm phong ghi tên Nguyễn Văn D gửi giám định có trọng lượng là 0,19g (không phẩy mười chín gram) là ma túy, loại Heroine.

Tại Cáo trạng số 20/CT- VKS ngày 08/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình truy tố Nguyễn Văn D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm o - khoản 2 - điều 249 Bộ luật hình sự.

Trong quá trình điều tra Nguyễn Văn D thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của bản thân.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng với lời khai tại cơ quan điều tra, các chứng khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo thừa nhận hành vi đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình truy tố. Tại phiên tòa bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình phân tích lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, cùng tang vật thu giữ; có đủ có sở xác định Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xét bị cáo có 02 tiền án chưa được xóa án đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm o khoản 2 Điều 249; điều 38; điểm s, khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Văn D từ 05 năm đến 05 năm 6 tháng tù. Áp dụng khoản 1 điều 47; khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu chiếc điện thoại xung công quỹ Nhà nước, tịch thu tiêu hủy hêroin. Đề nghị về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1.Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn D đã khai nhận đã có hành vi cất giữ trong lòng bàn tay trái 0,19gram Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân tại khu vực xóm 13, xã Sủ Ngòi, thành phố Hòa Bình. Lời khai nhận của bị cáo đúng với biên bản phạm tội quả tang, biên bản lời khai của bị cáo, lời khai nhân chứng tại cơ quan điều tra; phù hợp với chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Nguyễn Văn D là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi cất giữ Heroine bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm đã xâm phạm đến chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, được quy định tại điều 249 Bộ luật hình sự.

Xét Nguyễn Văn D đã 02 lần bị kết án về tội phạm độc lập do Bộ luật Hình sự quy định: Ngày 24/9/2012 bị Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình xử phạt 20 tháng tù về tội Hủy hoại tài sản, thời hạn tính từ ngày 10/06/2012; Ngày 15/9/2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và Hủy hoại tài sản, thời hạn tính từ ngày 03/4/2015. Lần kết án ngày 15/9/2015 đã bị áp dụng tình tiết tái phạm, chưa được xóa án tích, ngày 05/12/2017 lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, là tình tiết định khung quy định tại điểm o khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự.

2.Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu: Năm 2004 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xử 03 năm tù về tội Cướp tài sản. Năm 2008 bị Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản;

3.Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

4. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nên cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm (s) khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự .

Với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, với đặc điểm nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích ở trên cần có mức án thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

5. Trong quá trình tiến hành tố tụng: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã áp dụng các quy định của pháp luật được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại Kết luận điều tra vụ án hình sự số 14 ngày 07/02/2018 của Cơ quan CSĐT Công an thành phố Hòa Bình đề nghị truy tố Nguyễn Văn D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 nay là Khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Kết luận điều tra đề nghị truy tố của Cơ quan CSĐT Công an thành phố Hòa Bình đã đánh giá đúng tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên bản Kết luận điều tra của cơ quan Cảnh sát điều tra chưa chỉ rõ điểm nào trong Khoản 2 điều luật 194 Bộ luật hình sự năm 1999 và điểm nào trong Khoản 2 Điều 249 BLHS năm 2015 là còn thiếu xót.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình đã truy tố Nguyễn Văn D theo tội danh và điều luật áp dụng trong Cáo trạng số 20/CT- VKS ngày 08/3/2018 là có căn cứ.

Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý:

- 0,12 gram Heroine còn lại sau giám định là chất cấm tàng trữ cần tịch thu tiêu hủy

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mobiistar màu trắng, số Imel 3522428419382, bên trong có 01 sim Viettel, máy đã qua sử dụng. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Văn D thừa nhận đã sử dụng chiếc điện thoại này để liên hệ mua ma túy. Xét đây là tài sản bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội cần tịch thu phát mại, xung công quỹ Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 331, Điều 333, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt Nguyễn Văn D 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/12/2017

Vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phòng bì niêm phong vật chứng hoàn lại sau giám định ma túy mang tên đối tượng Nguyễn Văn D, mép dán niêm phong có dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình và chữ ký ký giám định viên. Hiện lưu giữ tại Chi cục Thi hành án thành phố Hòa Bình theo Biên bản giao nhận vật chứng số 27/BB ngày 26/3/2018 giữa Cơ quan Công an thành phố Hòa Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình.

- Tịch thu xung công quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mobiistar màu trắng, số Imel 3522428419382, bên trong có 01 sim Viettel, máy đã qua sử dụng.

Án phí: Bị cáo Nguyễn Văn D phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo.


50
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 14/2018/HS-ST ngày 19/04/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:14/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Hòa Bình - Hoà Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:19/04/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về