Bản án 14/2018/HS-ST ngày 28/03/2018 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 14/2018/HS-ST NGÀY 28/03/2018 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 28 tháng 3 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2018/TLST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2018/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân A, sinh năm 1989 tại huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Cụm 2, xã L, huyện Đ, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân Đ và bà Hoàng Thị T (đã chết); có vợ và có 03 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 02/7/2015, bị Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, Thành phố Hà Nội áp dụng biện pháp giáo dục tại xã; danh bản, chỉ bản số 047 ngày 28/12/2017 của Công an huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội; bị bắt tạm giữ ngày 26/12/2017, tạm giam ngày 29/12/2017 đến nay; có mặt.

- Người có quyn li, nghĩa vliên quan: Anh Nguyễ n Ngọc T, sinh năm 1988; nơi cư trú: Cụm 1, xã L, huyện Đ, Thành phố Hà Nộ i; vắng mặt. Anh Lê Hữu S, sinh năm 1986; nơi cư trú: Cụ m 7, xã H, huyệ n Đ, Thành phố Hà Nội; có mặt.

- Ngưi làm chng: Chị  Nguyễ n Thị  T, sinh năm 1989; nơi cư trú: Cụm 3, xã T, huyện Đ, Thành phố Hà Nội; chị  Mạc Thị  Tuyết Quỳnh, sinh năm 1990; nơi cư trú: T, huyệ n Đ, Thành phố Hà Nội; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện ma túy nên khoảng 10 giờ 00 phút ngày 26/12/2017, Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1988 ở Cụm 1, xã L, huyện Đ, Thành phố Hà Nội đã gọi điện từ số 01645026884 đến số 0988814730 của Nguyễn Xuân A, sinh năm 1989 ở Cụm 2, xã L, huyện Đ, hỏi mua 01 gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng, An đồng ý. Sau đó, A đến khu vực ngã ba đê Liên Trung hướng đi phường Thượng Cát, quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội, mua một gói Heroine của một người đàn ông không quen biết với giá 100.000 đồng và cất vào bao thuốc lá Sài Gòn màu vàng để ở túi quần bên phải phía trước và đi về nhà. Trên đường đi T nhờ A mua hộ dụng cụ để chích ma túy gồm xi lanh, kim tiêm, nước tiêm và hẹn mang ma túy đến nhà nghỉ Anh Thư ở trước công Bệnh viện đa khoa huyện Đan Phượng để giao cho T. Khi đến cổng nhà nghỉ Anh Thư, trong lúc đang chờ T thì A bị Công an huyện Đan Phượng kiểm tra và thu giữ: 01 (một) gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục, A khai là ma túy Heroine; 01 (một) vỏ bao thuốc lá Sài Gòn màu vàng bên trong có 04 điếu thuốc lá Sài Gòn còn nguyên; 01 (một) xi lanh bằng nhựa kích thước dài khoảng 10 cm; 01 (một) kim tiêm dài khoảng 05 cm; 01 (một) ống nước cất tiêm loại 5 ml bằng thủy tinh dài khoảng 07 cm bên trong chứa nước cất còn nguyên chưa sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu “Masstel” màu đỏ đen bên trong có lắp sim 0988814730; 01 (một) xe máy Wave RSX màu trắng đen, biển kiểm soát 30X3-1733, số khung 12398Y463114, số máy HC 12E-2215376.

Ngày 26/12/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đan Phượng ra quyết định trưng cầu giám định đối với 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục thu giữ của Nguyễn Xuân A. Tại Kết luận giám định số 216/KLGĐ-PC54 ngày 09/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hà Nội, kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói là ma túy loại Heroine, trọng lượng 0.031 gam.

Bản Cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 12 tháng 3 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội truy tố Nguyễn Xuân A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng tại phiên tòa trình bày luận tội giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố Nguyễn Xuân A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt Nguyễn Xuân A từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Căn cứ Điều 41 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 gói đã niêm phong chứa mẫu vật chứng là Heroine; 01 (một) vỏ bao thuốc lá Sài Gòn màu vàng bên trong có 04 điếu thuốc lá Sài Gòn còn nguyên; 01 (một) xi lanh bằng nhựa kích thước dài khoảng 10 cm; 01 (một) kim tiêm dài khoảng 05 cm; 01 (một) ống nước cất tiêm loại 5 ml bằng thủy tinh dài khoảng 07 cm bên trong chứa nước cất còn nguyên chưa sử dụng. Tịch thu sung quĩ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu “Masstel” màu đỏ đen bên trong có lắp sim 0988814730 thu của Nguyễn Xuân A và 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Sam sung màu nâu bên trong lắp sim có số thuê bao 016450226884 thu của Nguyễn Ngọc T.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Xuân A khai nhận do nghiện ma túy nên khi thấy Nguyễn Ngọc T gọi điện hỏi mua ma túy thì A đã mua của người nam giới không quen biết ở khu vực ngã ba đê Liên Trung hướng đi phường Thượng Cát, quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội số tiền 100.000 đồng ma túy. Mục đích sau đó A sẽ đem số ma túy này bán cho Nguyễn Ngọc T với số tiền 200.000 đồng. Khi An đến khu vực nhà nghỉ Anh Thư ở trước cổng Bệnh viện đa khoa huyện Đan Phượng để giao ma túy cho T thì bị phát hiện, bắt giữ.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Lê Hữu S khai chiếc xe máy nhãn hiệu Wave RSX màu trắng đen, biển kiểm soát 30X3-1733, số khung 12398Y463114, số máy HC 12E-2215376 mà bị cáo sử dụng là tài sản của mình. Anh S không biết việc bị cáo sử dụng để đi mua ma túy.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Vụ án xảy ra tại xã Đan Phượng, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội nên về thẩm quyền khởi tố điều tra, truy tố và xét xử thuộc các cơ quan tố tụng của huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội. Trong quá trình điều tra, truy tố thì Điều tra viên và Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng đã thực hiện trình tự, nội dung ban hành các văn bản và quyết định tố tụng theo đúng qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Xuân A thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 10 giờ 50 phút ngày 26/12/2017, tại khu vực trước cửa nhà nghỉ Anh Thư thuộc xã Đan Phượng, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội, bị cáo Nguyễn Xuân A đã có hành vi cất giữ 01 gói ma túy (loại Heroine) có trọng lượng 0,031 gam, mục đích để bán cho Nguyễn Ngọc T với số tiền 200.000 đồng. Khi A đang đợi T đến điểm hẹn trên để giao ma túy và nhận tiền thì bị Công an huyện Đan Phượng phát hiện bắt giữ và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Với hành vi cất giữ trên người số lượng ma túy loại Heroine, có trọng lượng 0,031 gam, mục đích để bán trái phép cho người khác thì hành vi của Nguyễn Xuân A đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Hành vi của bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội truy tố theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Xuân A nguy hiểm cho xã hội, vì không những xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, chất gây nghiện, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Ngoài ra, hành vi của bị cáo còn là nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng tệ nạn ma túy, các tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự khác. Bản thân bị cáo đã từng bị Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, Thành phố Hà Nội áp dụng biện pháp giáo dục tại xã nhưng bị cáo không lấy việc đó làm bài học để sửa chữa nay lại phạm tội. Xét hành vi và nhân thân của bị cáo thì thấy cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa thái độ khai báo thành khẩn, đây là tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4] Theo khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự thì ngoài hình phạt chính còn quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, bản thân bị cáo nghiện ma túy và không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản để đảm bảo cho việc thi hành án nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Đối với người nam giới mà Nguyễn Xuân A khai là người đã bán ma túy Heroine cho bị cáo, quá trình điều tra do bị cáo không biết tên, địa chỉ của người đó nên Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ để điều tra, xử lý.

[6] Xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Đan Phượng gồm: 01 gói đã niêm phong chứa mẫu vật chứng là Heroine; 01 (một) vỏ bao thuốc lá Sài Gòn màu vàng bên trong có 04 điếu thuốc lá Sài Gòn còn nguyên; 01 (một) xi lanh bằng nhựa kích thước dài khoảng 10 cm; 01 (một) kim tiêm dài khoảng 05 cm; 01 (một) ống nước cất tiêm loại 5 ml bằng thủy tinh dài khoảng 07 cm bên trong chứa nước cất còn nguyên chưa sử dụng. Các vật chứng này do liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Vật chứng là 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu “Masstel” màu đỏ đen bên trong có lắp sim 0988814730 thu của Nguyễn Xuân A và 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Sam sung màu nâu bên trong lắp sim có số thuê bao 016450226884 thu của Nguyễn Ngọc T, đây là phương tiện bị cáo Nguyễn Xuân A và Nguyễn Ngọc T sử dụng để liên hệ với nhau trong việc mua bán ma túy, cần tịch thu sung quĩ Nhà nước.

Đối với 01 (một) xe máy Wave RSX màu trắng đen, biển kiểm soát 30X3-1733, số khung 12398Y463114, số máy HC 12E-2215376, bị cáo Nguyễn Xuân A sử dụng vào việc đi bán ma túy, chiếc xe mang tên đăng ký chủ sở hữu là Lê Hữu S ở Cụm 7, Hạ Mỗ, Đan Phượng, Hà Nội. Quá trình điều anh S khai vào ngày 26/12/2017, Nguyễn Xuân A có hỏi mượn anh S chiếc xe trên để đi giải quyết việc riêng và được anh S Đồng ý. Tuy nhiên, anh S không biết bị cáo An sử dụng chiếc xe để đi mua bán ma túy vào ngày 26/12/2017 nên Cơ quan điều tra trả lại cho anh S là đúng pháp luật.

[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Xuân A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm s khoản 1 Điều51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân A 28 (Hai mươi tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 26/12/2017 về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

- Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bao gói sau giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hà Nội đã niêm phong, chứa mẫu vật chứng; 01 (một) vỏ bao thuốc lá Sài Gòn màu vàng, 04 điếu thuốc lá Sài Gòn còn nguyên; 01 (một) xi lanh bằng nhựa kích thước dài khoảng 10 cm và kim tiêm; 01 (một) ống nước cất tiêm loại 5 ml còn nguyên chưa sử dụng.

Tịch thu sung quĩ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu “Masstel” màu đỏ đen, có lắp số thuê bao 0988814730 thu của Nguyễn Xuân A và 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Sam sung màu nâu có lắp số thuê bao 016450226884 thu của Nguyễn Ngọc T (Các vật chứng hiện lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đan Phượng theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/3/2018 giữa Công an huyện Đan Phượng và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội).

- Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Xuân A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo qui định của pháp luật.


54
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 14/2018/HS-ST ngày 28/03/2018 về tội mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:14/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đan Phượng - Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:28/03/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về