Bán án 14/2019/HNGĐ-ST ngày 05/03/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ G, TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 14/2019/HNGĐ-ST NGÀY 05/03/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 05 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang. Mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 30/2019/TLST-HNGĐ ngày 10/01/2019, về việc: “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2019/QĐST–HNGĐ ngày 23/01/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1971 (vắng mặt, có đơn vắng mặt)

Địa chỉ: Số 1158 đường C, khu phố B, phường Q, Tp G, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Bà Trần Thị Láng (tên thƣờng gọi là Sáu), sinh năm 1968 (có mặt) Địa chỉ: Số 1158 đường C, khu phố B, phường Q, Tp G, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn ngày 03 tháng 01 năm 2019, tại phiên hòa giải nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ trình bày: Ông Đ và bà L quen nhau trên cơ sở tự nguyện, chung sống như vợ chồng với nhau từ năm 1990 cho đến nay, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân phường Q và được cấp giấy chứng nhận cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 06/11/2002.

Sau khi cưới nhau thì vợ chồng chung sống tại Số 1158 đường C, khu phố B, phường Q, Tp G, tỉnh Kiên Giang.

Lý do ly hôn: Trong thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc, chung sống được một thời gian thì vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cải nhau, không có tiếng nói chung, bất đồng ý kiến do công việc của Ông Đ thường xuyên đi biển xa nhà, ông làm tài công một năm về được 02 tháng, trong thời gian đó bà L đã tiêu xài hết số vàng và tài sản của Ông Đ, bà L thường xuyên mua sắm và cờ bạc dẫn đến thua lỗ và bỏ đi nhiều lần, sau đó bà L còn cầm cố giấy tờ nhà và sổ hô khẩu gia đình, sau khi Ông Đ phát hiện thì bà L cố tình đưa vàng giả để qua mặt ông, tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách, nhiều lần cố gắng khắc phục nhưng không có kết quả, vợ chồng ly thân từ khoảng năm 2007 cho đến nay. Xét thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống nên Ông Đ yêu cầu được ly hôn với bà L.

Về con chung: Ông Đ xác nhận vợ chồng chung sống có 02 người con chung tên Nguyễn Văn B, sinh ngày 15/5/1993 và Nguyễn Văn D, sinh ngày 24/6/1997, hiện các con đã trưởng thành, hiện đang sống cùng bà L.

Về tài sản chung: Ông Đ xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về công nợ chung: Ông Đ xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn bà Trần Thị Láng trình bày: Thống nhất theo trình bày của Ông Đ về vấn đề hôn nhân và con chung, tài sản chung và nợ chung.

Nay Ông Đ yêu cầu được ly hôn với bà thì bà không đồng ý theo yêu cầu của Ông Đ. Nếu Ông Đ đồng ý trả lại số tiền công mà con của Ông Đ đã làm công cho ông và không cho dẫn người phụ nữ khác về nhà đang ở tại số 1158 đường C, khu phố B, phường Q, Tp G, tỉnh Kiên Giang thì bà đồng ý ly hôn.

Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và ly thân từ năm 2007 cho đến nay. Lý do mà Ông Đ trình bày là không đúng, bà chỉ bỏ đi một lần và lần sau bỏ đi là do Ông Đ đánh bà nên bà mới bỏ đi, về kinh tế gia đình khó khăn, tính toán với vợ con, đi làm về thì tiền Ông Đ không đưa cho vợ con để chăm sóc gia đình, Ông Đ hứa cưới vợ cho hai con, hai người con đi làm cho Ông Đ nhưng Ông Đ không cho tiền các con, không sống chung với gia đình những vẫn bắt các con đi làm và quản lý thời gian đi làm và tiền của các con. Ông Đ có quen với những người phụ nữ khác bên ngoài, cụ thể là ở X, N và hiện tại bây giờ là đã công khai sống chung trước mặt các con, người phụ nữ đó tên P sống tại Số 26A, đường Đ, khu phố 5, phường H, thành phố G, tỉnh Kiên Giang, bà L có đến gặp mặt người phụ nữ tên P.

Về con chung: Bà L xác nhận vợ chồng chung sống có 02 người con chung tên Nguyễn Văn B, sinh ngày 15/5/1993 và Nguyễn Văn D, sinh ngày 24/6/1997, hiện các con đã trưởng thành.

Về tài sản chung: Bà L xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về công nợ chung: Bà L xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa hôm nay bị đơn bà Trần Thị Láng có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ vắng mặt có lý do. Xét thấy Ông Đ đã có ý kiến tại bản tự khai, biên bản hòa giải sự vắng mặt của nguyên đơn không làm ảnh hưởng đến phiên Tòa và bị đơn cũng đồng ý xét xử vắng mặt nguyên đơn. Căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử thống nhất xử vắng mặt đối với nguyên đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông Đ và bà L quen nhau trên cơ sở tự nguyện, chung sống như vợ chồng với nhau từ năm 1990 cho đến nay, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân phường Q và được cấp giấy chứng nhận cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 06/11/2002 là phù hợp theo quy định pháp luật được quy định tại Điều 8 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

[3] Tại phiên Tòa hôm nay bà L trình bày: Trong thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc, Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và ly thân từ năm 2007 cho đến nay. Lý do mà Ông Đ trình bày là không đúng, bà chỉ bỏ đi một lần và lần sau bỏ đi là do Ông Đ đánh bà nên bà mới bỏ đi, về kinh tế gia đình khó khăn, tính toán với vợ con, đi làm về thì tiền Ông Đ không đưa cho vợ con để chăm sóc gia đình, Ông Đ hứa cưới vợ cho hai con, hai người con đi làm cho Ông Đ nhưng Ông Đ không cho tiền các con, không sống chung với gia đình những vẫn bắt các con đi làm và quản lý thời gian đi làm và tiền của các con và ly thân từ năm 2007 cho đến nay. Xét thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống nên bà L cũng xác nhận tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng và Ông Đ yêu cầu được ly hôn với bà L, xét thấy Ông Đ, bà L không còn yêu thương quý trọng lẩn nhau, mạnh ai nấy đi, sống không ai quan tâm đến ai, mục đích hôn nhân không đạt được và đã ly thân từ năm 2007 cho đến nay nên nên Hội đồng xét xử cần áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của Ông Đ.

- Về con chung: Bà L xác nhận vợ chồng chung sống có 02 người con chung tên Nguyễn Văn B, sinh ngày 15/5/1993 và Nguyễn Văn D, sinh ngày 24/6/1997, hiện các con đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.

-Về tài sản chung và nợ chung: Bà L xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Ông Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Ông Đ được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã đóng theo biên lai thu số 0000435 ngày 07/01/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố G, tỉnh Kiên Giang.

Bị đơn bà Trần Thị L không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ các Điều 28; 147; 227; 228; 266; 267; 271; 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ Điều 8, 51, 54, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Điều 26 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho ông Nguyễn Văn Đ được ly hôn với bà Trần Thị L.

2. Về con chung: Bà L xác nhận vợ chồng chung sống có 02 người con chung tên Nguyễn Văn B, sinh ngày 15/5/1993 và Nguyễn Văn D, sinh ngày 24/6/1997, hiện các con đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.

-Về tài sản chung và nợ chung: Bà L xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này ông, bà có chứng cứ tranh chấp về vấn đề nợ và tài sản chung thì ông, bà có quyền khởi kiện thành một vụ kiện khác.

Về án phí: Ông Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Ông Đ được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã đóng theo biên lai thu số 0000435 ngày 07/01/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố G, tỉnh Kiên Giang.

Bị đơn bà Trần Thị L không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nếu đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành ánh án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.


28
Bản án/Quyết định đang xem

Bán án 14/2019/HNGĐ-ST ngày 05/03/2019 về ly hôn

Số hiệu:14/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Rạch Giá - Kiên Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:05/03/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về