Bản án 14/2019/HNGĐ-ST ngày 09/04/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG

BẢN ÁN 14/2019/HNGĐ-ST NGÀY 09/04/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 09 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 277/2018/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2018 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2019/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1991 (có mặt)

Trú tại: Số 167, khu vực P, phường T, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Chị Lê Thị Hồng G, sinh năm 1993 (vắng mặt)

Trú tại: ấp P, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và các lời khai của nguyên đơn anh Nguyễn Thanh H trình bày:

Anh và chị Lê Thị Hồng G chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2012, không đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, nhưng từ cuối năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường hay cãi vả dẫn đến chị G về nhà cha mẹ ruột sống đến nay. Vợ chồng đã ly thân khoảng 06 năm, do tình cảm không còn bà yêu cầu ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Lê Đăng K, sinh ngày 14/9/2013, hiện đang sống với chị G, anh để chị G nuôi con chung, và cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.000.000 đồng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Bị đơn chị Lê Thị Hồng G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Về phần thủ tục từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự tố tụng. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Bị đơn chị Lê Thị Hồng G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Anh Nguyễn Thanh H và chị Lê Thị Hồng G tự nguyện chung sống và tổ chức lễ cưới vào năm 2012, nhưng không đăng ký kết hôn nên không được coi là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo lời khai của anh H thì thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng thường xuyên cãi vả, chị G bỏ về nhà cha mẹ ruột sống từ cuối năm 2013. Chị G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không có ý kiến gì với cuộc hôn nhân của chị, điều đó cho thấy anh H và chị G mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên anh H yêu cầu ly hôn là có cơ sở để chấp nhận. Tuy nhiên, anh chị không đăng ký kết hôn nên không được công nhận là vợ chồng.

[3] Về con chung: Quá trình sống chung chị G và anh H có một người con chung tên Lê Đăng K, sinh ngày 14/9/2013 hiện đang sống với chị G. Anh H đồng ý để con chung cho chị G tiếp tục nuôi dưỡng. Nên Hội đồng xét xử giao cháu K cho chị G nuôi dưỡng. Anh H đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng đến khi cháu K tròn 18 tuổi.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đặt ra giải quyết.

[5] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyễn Thanh H phải chịu 300.000 đồng.

[6] Án phí cấp dưỡng nuôi con: Nguyễn Thanh H phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 51, Điều 53 và Điều 58 của Luật hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận anh Nguyễn Thanh H và chị Lê Thị Hồng G là vợ chồng.

Về con chung: Giao cháu Lê Đăng K, sinh ngày 14/9/2013 cho chị Lê Thị Hồng G trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu K tròn 18 tuổi. Anh Nguyễn Thanh H phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi cháu K tròn 18 tuổi. Thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Dành quyền thăm nom và chăm sóc con chung cho anh H không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đặt ra giải quyết. 

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Anh Nguyễn Thanh H phải chịu là 300.000 đồng, khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí anh Hoàng đã đóng theo biên lai số 0017906 ngày 24 tháng 12 năm 2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang thành án phí. Anh H đã đóng xong án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Án phí cấp dưỡng nuôi con anh H phải chịu là 300.000 đồng.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng, thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.


42
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 14/2019/HNGĐ-ST ngày 09/04/2019 về ly hôn

    Số hiệu:14/2019/HNGĐ-ST
    Cấp xét xử:Sơ thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Hậu Giang
    Lĩnh vực:Dân sự
    Ngày ban hành:09/04/2019
    Là nguồn của án lệ
      Bản án/Quyết định sơ thẩm
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về