Bản án 14/2019/HNGĐ-ST ngày 17/05/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 14/2019/HNGĐ-ST NGÀY 17/05/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 17. 5.2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 28/2019/TLST-HNGĐ ngày 22.01.2019, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2019/QĐXX-ST ngày 11.4.2019 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà H - sinh năm 1972; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 5, phường C, quận C, thành phố Đà Nẵng; Hiện nay tạm trú tại: Số nhà K424/10 đường D, phường G, quận K, thành phố Đà Nẵng (có mặt)

* Bị đơn: Ông N - sinh năm 1964; địa chỉ: Số K96H08/9 đường P, phường G, quận K, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Trong đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn là bà H trình bày:

Tôi và ông N kết hôn năm 1998, đăng ký kết hôn tại UBND phường C, quận C, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình, quan điểm sống không hợp. Ông N không có trách nhiệm với gia đình và sống buông thả. Từ năm 2016, tôi đã cùng các con ra thuê nhà ở riêng và từ đó vợ chồng không có quan hệ hay trách nhiệm gì với nhau nữa. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc gia đình không có nên đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn ông N.

* Về con chung: Chúng tôi có 03 con chung gồm T, sinh năm 1992, L, sinh năm 1994 và N1, sinh ngày 11.01.2006. Hai cháu đầu đã trưởng thành và đã có cuộc sống riêng, còn cháu N1 chưa thành niên tôi yêu cầu được nuôi dưỡng và không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.

* Về tài sản chung và nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông N không có mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên không có ý kiến trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng đã xác định: Những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Đối với nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để cho bà H ly hôn với ông N và giao con chưa thành niên cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên, ông N không phải cấp dưỡng nuôi con. Các vấn đề khác không có yêu cầu nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp giữa bà H với ông N là tranh chấp về hôn nhân gia đình, bị đơn có địa chỉ cư trú ở địa bàn quận Thanh Khê nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ti phiên tòa, bị đơn là ông N vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung vụ án: Bà H và ông N kết hôn năm 1998, đăng ký kết hôn tại UBND phường C, quận C, thành phố Đà Nẵng, đây là hôn nhân tự nguyện và đảm bảo các quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên được thừa nhận và bảo vệ.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng bà H ông N đã phát sinh mâu thuẫn. Theo trình bày của bà H thì nguyên nhân mâu thuẫn là do hai vợ chồng không hợp nhau về tính tình và quan điểm sống. Ông N không lo lắng, không có trách nhiệm với gia đình và có lối sống buông thả. Hội đồng xét xử thấy rằng, cuộc sống vợ chồng của bà H và ông N thực sự đã phát sinh mâu thuẫn và đã trầm trọng kéo dài. Bởi từ năm 2016 đến nay, hai người sống ly thân và đã chấm dứt quan hệ hôn nhân trên thực tế. Ông N cũng không có thiện chí trong việc hàn gắn hạnh phúc gia đình. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án, mặc dù đã nhận đầy đủ các thông báo tố tụng nhưng ông N cố tình không đến Tòa án để làm việc chứng tỏ ông N cũng không muốn vợ chồng đoàn tụ. Xét thấy quan hệ vợ chồng và mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H về việc ly hôn với ông N là hoàn toàn phù hợp.

[3] Về con chung: Vợ chồng bà H ông N có 03 con chung gồm T, sinh năm 1992, L, sinh năm 1994 và N1, sinh ngày 11.02.2006. Hai cháu đầu đã trưởng thành và đã có cuộc sống riêng nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết. Riêng cháu N1 chưa thành niên hiện nay đang sống với bà H và có nguyện vọng ở với mẹ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H, giao con chưa thành niên là cháu N1, sinh ngày 11.01.2006 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên (18 tuổi). Bà H không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung và nợ chung, bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập.

[5] Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà H phải chịu 300.0000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H về việc “Ly hôn” đối với ông N.

Xử:

* Về quan hệ hôn nhân: Bà H được ly hôn với ông N.

* Về con chung: Giao con chung là cháu N1, sinh ngày 11.01.2006 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên (18 tuổi), ông N không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.

Bên không nuôi con vẫn có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.

* Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng bà H phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà H đã nộp theo biên lai số 4493 ngày 22.01.2019 của Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Bà H đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Án xử công khai, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.


31
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 14/2019/HNGĐ-ST ngày 17/05/2019 về ly hôn

Số hiệu:14/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Thanh Khê - Đà Nẵng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 17/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về