Bản án 14/2019/HSST ngày 06/03/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 14/2019/HSST NGÀY 06/03/2019 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 06 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2019/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2019/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đình C; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 21/01/1995;

Nơi cư trú: Tổ dân phố 02, phường N, thành phố Đ, tỉnh B.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Thợ nhôm kính; Trình độ văn hóa: 12/12 phổ thông; Con ông: Nguyễn Đình M- sinh năm 1969 (Còn sống); Con bà: Nguyễn Thị H - sinh năm 1971 (Còn sống); Vợ, con: Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 23/10/2018, sau đó bị tạm giam cho đến ngày xét xử. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: (Có mặt)

1. Anh Hoàng Văn B - sinh năm 1975

Địa chỉ:  Trại 02, xã X, huyện B, tỉnh B.

2. Anh Hoàng Xuân T - sinh năm 1997

Đại chỉ: Trại 02, xã X, huyện B, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 23/10/2018 tổ công tác Đội cảnh sát điều tra về ma túy - Công an thành phố Đ làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 21, phường Him Lam, thành phố Đ phát hiện Nguyễn Đình C điều khiển xe mô tô BKS 27B1 - 680.68 dừng tại sân của Khách sạn Mường Thanh, có dấu hiệu hoạt động phạm tội về ma túy. Tổ công tác áp sát, khống chế, C thả 01 gói bằng băng dính màu đen, bên trong có 06 viên nén màu hồng được gói bằng 02 gói nhỏ từ trong lòng bàn tay trái xuống mặt sân cách bàn chân trái của C khoảng 20cm, sau đó C tự giác nhặt lên nộp cho cơ quan công an và khai nhận đó là Hồng phiến. Cơ quan điều tra đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng. C khai nhận số ma túy mà Cơ quan điều tra thu giữ C có được là do vào khoảng15 giờ cùng ngày khi C đang ngồi chơi điện tử ở quán Internet số 69, thuộc tổ 9, phường Nam Thanh, thành phố Đ thì có một người đàn ông không quen biết đưa cho C số tiền 360.000 đồng và nhờ mua hộ 6 viên hồng phiến, hẹn C mang đến Khách sạn Mường Thanh thì sẽ trả công cho C 200.000 đồng. Sau khi nhận tiền của người này, C mượn xe máy và chiếc điện thoại của Hoàng Xuân T là bạn đang chơi game cùng đi ra khu vực quảng trường  7/5 thuộc tổ 10, phường Mường Thanh, thành phố Đ gặp và hỏi mua của người đàn ông không quen biết 6 viên hồng phiến với giá 60.000 đồng một viên. Mua được ma túy C cầm trong lòng bàn tay trái đi đến Khách sạn Mường Thanh thì bị phát hiện bắt quả tang.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 23/10/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ và kết luận giám định số 31/GĐ-PC09 ngày 31/10/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,67g.

Tại bản cáo trạng số 08/CT-VKS-TPĐBP ngày 23/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình C về tội: Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251/BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Đình C từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,61 gam Methamphetamine (vật chứng hoàn lại sau giám định), 01 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh băng dính màu đen, 01 đoạn ống nhựa màu trắng đục. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Đình C không có lời bào chữa nào, nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ.

Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an thành phố Đ, điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

 [2]. Về hành vi của bị cáo bị truy tố: Khoảng 17 giờ, ngày 23/10/2018, tại tổ dân phố 21, phường Him Lam, thành phố Đ, Nguyễn Đình C đã có hành vi cất dấu trái phép 0,67 gam Methamphetamine, mục đích để kiếm lời.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 17 giờ ngày 23/10/2018, biên bản niêm phong vật chứng, biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 23/10/2018, kết luận giám định số 31/GĐ-PC09 ngày 31/10/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh B kết luận: Vật chứng thu giữ của bị cáo Nguyễn Đình C là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,67g.

Do đó, có đủ cơ sở khẳng định, hành vi Mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo, với mục đích để kiếm lời là phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251/BLHS. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, Nguyễn Đình C phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Từ những phân tích trên khẳng định Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh B truy tố bị cáo Nguyễn Đình C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS là hoàn toàn đúng người, đúng tội.

Bị cáo Nguyễn Đình C là người nghiện ma túy, bị cáo nhận thức rõ hành vi cất dấu trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, vì vậy mức hình phạt mà đại diện viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

 [3]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.Tuy nhiên, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy. Vì vậy, cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc đối với bịcáo là hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, để bị cáo có điều kiện cai nghiện, đồng thời để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội.

 [4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 BLHS, thì ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền  từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, bị cáo tuy là thợ nhôm kính nhưng thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn.

Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

 [5]. Bị cáo khai nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là mua của một người đàn ông và do một người đàn ông nhờ mua nhưng không biết tên, địa chỉ của những người này, cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

 [6]. Vật chứng: 0,61 gam Methamphetamine  (vật chứng còn lại sau giám định) làvật nhà nước cấm tàng trữ, 01 mảnh băng dính màu đen, 01 mảnh nilon màu hồng, 01đoạn ống nhựa màu trắng đục không còn giá trị sử  dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA Exciter, màu sơn đen, số máy G3D4E-662611, số khung RLCUG0610JY636289, BKS 27B1-0683.68 kèm 1chìa khóa xe là của anh Hoàng Văn B. Một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel là tài sản của anh Hoàng Xuân T. Anh  B, anh T không biết bị cáo mượn tài sản để dùng vào việc phạm tội, ngày 18/01/2019 cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả số tài sản trên cho chủ sở hữu. Xét việc trao trả này của Cơ quan điều tra là có căn cứ pháp luật, nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

 [7]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136/BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy B thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình C phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình C 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (23/10/2018).

2. Vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS,  điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy 0,61 gam Methamphetamine (là vật chứng còn lại saugiám định), 01 mảnh băng dính màu đen, 01 mảnh nilon màu hồng, 01 đoạn ống nhựa màu trắng đục (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/01/2019 giữa Công an thành phố Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đ, tỉnh B).

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy B thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:  Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án . Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (06/3/2019).


30
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 14/2019/HSST ngày 06/03/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:14/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Điện Biên Phủ - Điện Biên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:06/03/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về