Bản án 143/2019/HC-PT ngày 09/04/2019 về khiếu kiện quyết định hành chính trong quản lý nhà nước đất đai

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 143/2019/HC-PT NGÀY 09/04/2019 VỀ KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐẤT ĐAI

Ngày 09 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 419/2018/TLPT-HC ngày 20 tháng 8 năm 2018 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”. Do Bản án hành chính sơ thẩm số 08/2018/HC-ST ngày 20 tháng 6 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 258/2019/QĐPT-HC ngày 20 tháng 03 năm 2019 giữa các đương sự:

Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1960;

Địa chỉ: Tổ 01, ấp Thành Đ, xã T, huyện Ch, tỉnh Tây Ninh (Có mặt).

Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh (Vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh: Ông Văn Tiến D, chức vụ: Phó Giám đốc Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Tây Ninh (Vắng mặt) và ông Lương Nguyễn Đằng D, chức vụ: Phó Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Tây Ninh (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Ch, tỉnh Tây Ninh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chủ tịch UBND huyện Ch: Ông Huỳnh Thanh Nh, chức vụ: Phó phòng Tài nguyên và môi trường huyện Ch (Có mặt).

2/ Ủy ban nhân dân xã T, huyện Ch, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn Ch, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện Ch, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).

- Người kháng cáo: Người khởi kiện Ông Nguyễn Văn H

NỘI DUNG VỤ ÁN

Người khởi kiện Ông Nguyễn Văn H trình bày:

Ông Nguyễn Văn H khiếu kiện diện tích 02 ha thuộc thửa số 120, tờ bản đồ số 48 tọa lạc tại ấp Thành Đ, xã T, huyện Ch, tỉnh Tây Ninh đến Ủy ban nhân dân (sau đây gọi tắt là UBND) huyện Ch, tỉnh Tây Ninh.

Ngày 05/5/2016 Chủ tịch UBND huyện Ch ban hành Quyết định số 1147/QĐ-UBND (sau đây gọi tắt là Quyết định số 1147) có nội dung không chấp nhận đơn khiếu nại của ông H. Sau đó ông H có đơn khiếu nại đến Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh.

Ngày 09/12/2016 Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh ban hành Quyết định số 3156/QĐ-UBND (sau đây gọi tắt là Quyết định số 3156) có nội dung không chấp nhận đơn khiếu nại của ông H, công nhận Quyết định số 1147 của Chủ tịch UBND huyện Ch.

Ông H yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh hủy Quyết định số 3156 bởi lý do sau đây: Ông là người khai hoang và sử dụng phần đất 02 ha trên từ năm 1985, do muốn cải tạo đất nên ông mới cho ông Ngh và ông H mượn đất để Huyện đoàn sử dụng. Sau khi sử dụng xong, ông Ngh và ông H không trả đất lại cho ông. Do trên đất vẫn còn cây bạch đàn nên ông vẫn nghĩ Huyện đoàn đang sử dụng đất nên không có yêu cầu đòi lại đất. Đến khi ông Võ Công Ph là cán bộ địa chính xã sản xuất trên đất, ông mới biết và khiếu nại đòi lại đất. Việc ông cho ông H, ông Ngh mượn đất không có giấy tờ, tuy nhiên đã được ông Ngh và ông H thừa nhận. Ngoài ra, tại Bản án số: 54/2009/HSST ngày 09/6/2009 của Tòa án nhân dân huyện Ch xét xử ông Võ Công Ph về tội “Lạm dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, ở phần nhận thấy có nêu “…Ông Lê Văn Ngh và ông Kim Ngọc H (Tổng đội Thanh niên xung phong) tổ chức khai hoang tại khu vực Lò Than thuộc ấp Thành Đ được 05ha119 giáp với 02 ha đất của Ông Nguyễn Văn H đã khai hoang trước đó, thấy đất liền kề nên ông Ngh và ông H mượn đất ông H diện tích 02 ha để sản xuất, tổng cộng 7ha119 đất được trồng bạch đàn và nuôi dê”. Do đó, nguồn gốc phần đất diện tích 02 ha ông đang khiếu kiện là của ông, không phải đất công do UBND xã T quản lý.

Theo Văn bản số: 361/UBND-TD ngày 09-02-2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh có nội dung:

Quan điểm của Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh là giữ nguyên Quyết định số 3156 về việc giải quyết đơn khiếu nại của Ông Nguyễn Văn H.

Tại bản khai ngày 23-5-2018 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Ch trình bày:

Phần đất diện tích 02 ha đất tọa lạc tại ấp Thành Đ, xã T, huyện Ch, tỉnh Tây Ninh Ông Nguyễn Văn H đang khiếu kiện nằm trong tổng diện tích 70.119m2, là đất công do UBND xã T quản lý và đăng ký trong sổ mục kê năm 1989, trang số 152, tờ bản đồ số 7 gồm các thửa 645, 646, 647, 648. Đến năm 2010, Nhà nước đo đạc lưới chính quy thì diện tích tăng lên là 75.841,9m2 thuộc thửa 120, tờ bản đồ số 48.

Về nguồn gốc phần đất trên thì trước 30/4/1975, là đất hoang đến sau 30/4/1975 một số người dân từ Campuchia về khu đất này khai hoang sản xuất. Khi chiến tranh biên giới Tây Nam 1978-1979 kết thúc, thì số dân trên bỏ đi nơi khác và đất tiếp tục bị bỏ hoang. Đến năm 1988, Liên đội Thanh niên xung phong thuộc Huyện đoàn Châu Thành được UBND xã T cho mượn khu đất Tàn Dù khai hoang sản xuất và trồng cây bạch đàn. Năm 1989, Liên đội Thanh niên xung phong giải thể, đất không ai quản lý và tiếp tục bị bỏ hoang.

Ngày 19/11/2014, Tổ công tác giải quyết tranh chấp đất đai của huyện cùng với ông H đến vị trí đất tranh chấp để ông H xác định vị trí khu đất 02 ha mà ông đang khiếu nại, sau đó ông H thuê đo đạc và cung cấp hồ sơ đất. Trên cơ sở xác định vị trí và kết quả đo đạc đất của ông H, tổ công tác xác định vị trí 02 ha nằm trong 03 thửa số 645, 646, 647 thuộc tờ bản đồ số 07 đo đạc năm 1989, loại đất rừng tự nhiên, cụ thể: Thửa 645 diện tích là 3.980,2m2, thửa 646 diện tích là 12.261,6m2, thửa 647 diện tích là 3.415,8m2.

Thực hiện Bản án hình sự số: 54/2009/HSST ngày 09/06/2009 của Tòa án nhân dân huyện Ch đã có hiệu lực pháp luật thể hiện phần đất diện tích 75.841,9m2 thửa số 120 tờ bản đồ số 48 tọa lạc tại ấp Thành Đ, xã T là đất công do UBND xã T quản lý sử dụng.

Từ cơ sở trên, Chủ tịch UBND huyện Ch kiến nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của Ông Nguyễn Văn H theo quy định của pháp luật.

Tại Văn bản số: 79/UBND ngày 22-5-2018, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện Ch trình bày:

Qua kiểm tra hồ sơ địa chính xã quản lý thì phần diện tích 02 ha đất ông H khiếu nại nằm trong diện tích 75.841,9m2 thuộc thửa số 120, tờ bản đồ số 48 năm 2010 là đất công. UBND huyện Ch giao cho UBND xã T quản lý và thực hiện theo Bản án hình sự số: 54/2009/HSST ngày 09/6/2009 của Tòa án nhân dân huyện Ch.

Chủ tịch UBND xã T yêu cầu Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của Ông Nguyễn Văn H.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 08/2018/HC-ST ngày 20 tháng 6 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 193 của Luật tố tụng hành chính;

Căn cứ khoản 2 Điều 21 của Luật khiếu nại năm 2011; khoản 7 Điều 29 của Luật tổ chức chính quyền địa phương; Điều 50, 116 của Luật đất đai 2003; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Bác yêu cầu khởi kiện của Ông Nguyễn Văn H về việc yêu cầu hủy bỏ Quyết định số: 3156/QĐ-UBND, ngày 09/12/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí hành chính sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 27/6/2018, người khởi kiện kháng cáo toàn bộ bản án.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện Ông Nguyễn Văn H trình bày: Nguồn gốc 02 ha đất do ông khai hoang từ năm 1985. Do ông đi làm ăn xa nên ông cho thanh niên xung phong mượn khoảng 5 năm, khi mượn chỉ bằng miệng không có giấy tờ gì. Năm 2001 ông có tranh chấp đất với ông Võ Công Ph, vì vậy mới phát hiện ra hành vi sai trái của cán bộ xã lấy đất công cấp cho người thân. Ông Phu đã bị Tòa án tuyên phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Ông đã làm đơn khiếu nại UBND huyện Ch yêu cầu trả lại 02 ha đất trên nhưng UBND huyện Ch bác đơn khiếu nại của ông. Ông tiếp tục khiếu nại Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh thì ngày 09/12/2016 Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh ban hành quyết định 3156 không chấp nhận khiếu nại. Vì vậy, ông đề nghị tòa phúc thẩm hủy quyết định 3156/QĐ-UBND ngày 09/12/2016 của Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của UBND huyện Ch ông Huỳnh Thanh Nhàn trình bày: Phần đất diện tích 02 ha đất tọa lạc tại ấp Thành Đ, xã T, huyện Ch, tỉnh Tây Ninh Ông Nguyễn Văn H đang khiếu kiện nằm trong tổng diện tích 70.119m2, là đất công do UBND xã T quản lý và đăng ký trong sổ mục kê năm 1989, trang số 152, tờ bản đồ số 7 gồm các thửa 645, 646, 647, 648. Đến năm 2010, Nhà nước đo đạc lưới chính quy thì diện tích tăng lên là 75.841,9m2 thuộc thửa 120, tờ bản đồ số 48.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến: Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và giải quyết là đúng quy định của Luật tố tụng hành chính. Quyết định bị khiếu kiện số 3156/QĐ-UBND ngày 06/12/2006 của Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh là hợp pháp, các quyết định liên quan đúng quy định pháp luật nên Tòa án cấp sơ thẩm bác đơn khởi kiện của ông H là có căn cứ, đúng pháp luật. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về đối tượng khởi kiện, thời hiệu khởi kiện, thẩm quyền giải quyết vụ án, trình tự thủ tục và thẩm quyền ban hành quyết định là đúng theo quy định tại Điều 30, Điều 32, khoản 2 Điều 116 của Luật tố tụng hành chính và khoản 7 Điều 22 của Luật tổ chức chính quyền địa phương.

[2] Về nội dung:

[2.1] Qua hồ sơ địa chính và tại sơ đồ hiện trạng sử dụng đất số: 2513/SĐ- SĐHT ngày 22-02-2015 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Tây Ninh – chi nhánh huyện Ch phần đất diện tích 02 ha ông H khiếu nại nằm trong tổng diện tích 75.841,9m2 thuộc thửa số 120, tờ bản đồ số 48 tọa lạc tại ấp Thành Đ, xã T, huyện Ch, tỉnh Tây Ninh.

[2.2] Nguồn gốc phần diện tích đất trên là đất rừng tự nhiên (hay còn gọi là khu Lò than), năm 1985 ông H khai hoang đất để sản xuất nhưng không hiệu quả, nên đến năm 1987 ông H không sản xuất, đất bị bỏ hoang.

Năm 1988 Liên đội thanh niên xung phong của huyện Đoàn Châu Thành trồng cây bạch đàn, nhưng cũng không hiệu quả nên đến năm 1989 đơn vị Liên đội thanh niên xung phong giải thể, đất tiếp tục bỏ hoang không ai sử dụng.

[2.3] Đến năm 2001, bà Võ Thị T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02596 với diện tích 39.212m2, ông Võ Văn U đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02589 với diện tích 30.907m2. Ông U, bà Tỏ tiến hành sử dụng đất đến năm 2006 thì phát sinh tranh chấp với ông H. Tại Bản án hình sự số 54/2009/HCST ngày 09/6/2009 đã nhận định: “Diện tích đất trên thuộc phạm vi quản lý của Nhà nước...” nên kiến nghị UBND huyện Ch thu hồi lại quyền sử dụng đất của bà Võ Thị T, ông Võ Văn U.

[2.4] Về kê khai đăng ký quyền sử dụng đất: Năm 1989, UBND xã T quản lý và đăng ký kê khai diện tích 70.119m2, trang số 152, tờ bản đồ số 7 gồm các thửa 645, 646, 647, 648 thuộc loại đất rừng. Đến năm 2010, sau khi đo đạc theo sơ đồ lưới chính quy thì diện tích 70.119m2 trên tăng lên là 75.841,9m2, thuộc thửa số 120, tờ bản đồ số 48. Trong đó phần diện tích đất 02 ha ông H đang khiếu kiện gồm diện tích nằm trong các thửa cụ thể: thửa số 645 có phần diện tích 3.980,2m2, thửa 646 có phần diện tích là 12.261,6m2, thửa 647 diện tích là 3.415,8m2 thuộc UBND xã T quản lý.

[2.5] Như vậy, diện tích 02 ha đất ông H khiếu nại, thì năm 1985 ông H có khai phá và sản xuất đến năm 1987 thì bỏ hoang. Năm 1988 Liên đội thanh niên xung phong Huyện đoàn Châu Thành tiến hành khai phá để trồng bạch đàn, đến năm 1989-1990 Liên đội thanh niên xung phong giải thể. Năm 2001, ông Phu, bà Tỏ, ông Út chiếm đất sản xuất, đến năm 2006 ông H tranh chấp và được giải quyết bằng Bản án hình sự số 54/2009/HSST ngày 09/6/2009 của Tòa án nhân dân huyện Ch, tỉnh Tây Ninh. Ông H không kê khai đăng ký, cũng không sử dụng đất từ năm 1988, do đó Chủ tịch UBND huyện Ch ban hành Quyết định số 1147 và Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh ban hành Quyết định số 3156 bác đơn khiếu nại của Ông Nguyễn Văn H là có căn cứ đúng quy định của pháp luật.

[3] Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ông Nguyễn Văn H về việc yêu cầu hủy bỏ Quyết định số 3156/QĐ-UBND, ngày 09/12/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh là có căn cứ, đúng pháp luật.

Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của Ông Nguyễn Văn H, giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm.

[4] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông H phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Không chấp nhận kháng cáo của Ông Nguyễn Văn H. Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 08/2018/HC-ST ngày 20/6/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

2. Áp dụng khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 193 của Luật tố tụng hành chính; Căn cứ khoản 2 Điều 21 của Luật khiếu nại năm 2011; khoản 7 Điều 29 của Luật tổ chức chính quyền địa phương; Điều 50, 116 của Luật đất đai 2003; Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ông Nguyễn Văn H về việc yêu cầu hủy bỏ Quyết định số 3156/QĐ-UBND, ngày 09/12/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh.

3. Về án phí:

Án phí sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000435 ngày 19/01/2018 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh, ông H đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

Án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn H phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000600 ngày 05/7/2018 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh, ông H đã nộp đủ án phí phúc thẩm.

4. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 09 tháng 04 năm 2019)./


37
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về