Bản án 143/2019/HC-PT ngày 30/08/2019 về khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 143/2019/HC-PT NGÀY 30/08/2019 VỀ KHIẾU KIỆN HÀNH VI HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Ngày 30 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm vụ án hành chính thụ lý số 92/2019/TLPT-HC ngày 21 tháng 01 năm 2019 về việc “Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.

Do bản án hành chính sơ thẩm số 63/2018/HC-ST ngày 29/11/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 958/2019/QĐ-PT ngày 12 tháng 8 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện: Ông Hồ Trọng T - Sinh năm: 1943;

Địa chỉ: số 327 đường H, thành phố Q, tỉnh Bình Định, có mặt.

2. Người bị kiện: UBND thành phố Q, tỉnh Bình Định.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Hoàng N - Chủ tịch

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Anh S - Phó Chủ tịch.Theo Giấy ủy quyền số 21/GUQ-UBND ngày 28/9/2018 của Chủ tịch UBND thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt. Ông Lê Anh S có đơn xét xử vắng mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bình Định - Chi nhánh TP Q;

Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Bích N - Giám đốc Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Minh P - Phó Giám đốc.

Theo Giấy ủy quyền số 05/GUQ ngày 02/11/2018 của Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bình Định - Chi nhánh thành phố Q, vắng mặt.

- Bà Đào Thị T - Sinh năm: 1945, có mặt;

Địa chỉ: số 327 đường H, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

- Bà Đỗ Thị C, sinh năm: 1939, vắng mặt; bà Có có đơn xét xử vắng mặt.

- Bà Võ Thị L, sinh năm: 1964, có mặt;

Đồng trú tại: số 325 đường H, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

- Người kháng cáo: Người khởi kiện ông Hồ Trọng T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

1. Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo, người khởi kiện ông Hồ Trọng T trình bày:

Vợ chồng ông đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định (viết tắt là UBND tỉnh Bình Định) cấp Sổ chứng nhận quyền sở hữu nhà số 764/CNSH ngày 28/12/1991 đối với ngôi nhà số 45KB đường B, phường N, tỉnh Bình Định (nay là thửa đất số 144, tờ bản đồ số 13, địa chỉ: Số 327 đường H, thành phố Q, tỉnh Bình Định) với diện tích là 130m2. Trong quá trình quản lý, sử dụng ngôi nhà nói trên, vợ chồng ông không có tranh chấp hoặc có hành vi lấn chiếm đất với các hộ liền kề.

Ngày 25/4/2017, ông nộp hồ sơ đề nghị cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với ngôi nhà số 327 đường H, thành phố Q, tỉnh Bình Định tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả trực thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định (viết tắt là UBND thành phố Q).

Sau khi tiếp nhận hồ sơ của ông, ngày 09/5/2017, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bình Định – Chi nhánh thành phố Q (viết tắt là Chi nhánh VPĐKĐĐ Q) phối hợp với cán bộ địa chính phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định đã tiến hành kiểm tra đo đạc hiện trạng của nhà ông; sau khi kết thúc buổi đo đạc, ông đã ký vào bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất xác nhận số liệu đã đo đạc và ông không thấy bất kỳ ý kiến nào khác của hộ liền kề là bà Võ Thị L. Không hiểu lý do tại sao đến ngày 12/5/2017, Chi nhánh VPĐKĐĐ Q phối hợp với cán bộ địa chính phường N tiến hành đo đạc lại hiện trạng thửa đất của nhà bà L và lập biên bản như thế nào ông không biết. Ngày 05/6/2017, ông nhận được Công văn số 286/VPĐK ngày 22/5/2017 của Chi nhánh VPĐKĐĐ Q; công văn có nội dung là bà Võ Thị L không ký tiếp giáp các hộ liền kề, đề nghị cơ quan chức năng giải quyết nhà ông T xây dựng tường rào lấn qua đất nhà bà và đề nghị Ủy ban nhân dân phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định (viết tắt là UBND phường N) giải quyết tranh chấp giữa hai hộ ông và bà L trước khi cấp giấy chứng nhận cho ông. Sau đó, UBND phường N đã tiến hành hòa giải tranh chấp giữa hộ ông và bà L vào ngày 29/6/2017, 28/12/2017.

Ngày 01/9/2017, ông nhận được Thông báo số 245/TB-VP ngày 25/7/2017 của UBND thành phố Q về việc trả hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông với lý do hiện nay hồ sơ của ông đang có tranh chấp. Việc UBND thành phố Q ra thông báo nói trên trả hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông là không đúng; bởi lẽ:

- Ông không có tranh chấp đất với hộ liền kề là bà Võ Thị L.

- UBND thành phố Q chưa tiến hành xác minh đối với nội dung yêu cầu của bà L.

- UBND thành phố Q áp dụng các quy định của pháp luật trong việc ban hành Thông báo số 245/TB-VP ngày 25/7/2017 là không phù hợp.

Do đó, ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

- Xem xét hành vi hành chính của UBND thành phố Q về việc không thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 144, tờ bản đồ số 13 tọa lạc tại tổ 7, khu vực 7, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định cho vợ chồng ông theo quy định.

- Buộc UBND thành phố Q thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nói trên cho vợ chồng ông theo diện tích thực tế đang sử dụng khoảng 134m2.

Bên cạnh các đơn khởi kiện vụ án hành chính, bản sao các quyết định hành chính bị kiện, ông Hồ Trọng T còn cung cấp cho Tòa án một số tài liệu, chứng cứ khác có liên quan đến yêu cầu khởi kiện. Ngoài ra, ông T không tự mình thu thập được bất kỳ chứng cứ nào khác và không có yêu cầu Tòa án thu thập thêm tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc giải quyết vụ án.

2. Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện Ủy ban nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định là ông Lê Anh S – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định trình bày:

Ngày 25/4/2017, Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả trực thuộc UBND thành phố Q tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 144, tờ bản đồ số 13 tọa lạc tại tổ 7, khu vực 7, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định (ngôi nhà số 327 đường H, thành phố Q, tỉnh Bình Định) của ông Hồ Trọng T.

Ngày 09/5/2017, Chi nhánh VPĐKĐĐ Q phối hợp với cán bộ địa chính phường N đã tiến hành kiểm tra đo đạc hiện trạng thửa đất nói trên của ông T; kết quả đo đạc diện tích tăng so với Sổ chứng nhận quyền sở hữu nhà số 764/CNSH ngày 28/12/1991 do UBND tỉnh Bình Định cấp cho nhà vợ chồng ông T nên phải ký tiếp giáp với các hộ liền kề. Quá trình ký tiếp giáp có hộ bà Võ Thị L không ký xác nhận ranh giới, mốc giới sử dụng đất nên xảy ra tranh chấp. Bà L có đơn yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết nhà ông T xây tường rào phía trước nhà (mặt tiền) lấn qua phần đất của nhà bà.

Ngày 22/5/2017, Chi nhánh VPĐKĐĐ Q có Công văn số 286/VPĐK đề nghị UBND phường N hòa giải tranh chấp giữa hai hộ ông T và bà L theo quy định trước khi cấp giấy chứng nhận cho ông T.

Ngày 03/7/2017, Chi nhánh VPĐKĐĐ Q nhận được Công văn số 75/UBND- NĐ của UBND phường N có nội dung thông báo kết quả hòa giải tranh chấp đất đai không thành giữa hộ ông T, bà L.

Ngày 30/8/2017, Chi nhánh VPĐKĐĐ Q nhận được đơn đề nghị của bà L không đồng ý thỏa thuận về ranh giới đất với ông T và đồng thời bà L đề nghị Chi nhánh VPĐKĐĐ Q tạm thời ngưng cấp sổ cho ông T chờ Tòa án phán xét.

Từ những căn cứ nói trên, hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của ông T chưa có cơ sở thực hiện nên ngày 25/7/2017, UBND thành phố Q ra Thông báo số 245/TB-VP về việc trả hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T.

Việc UBND thành phố Q ra thông báo trả hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T vì đang có tranh chấp là đúng quy định; do đó, UBND thành phố Q không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T yêu cầu Tòa án xem xét hành vi hành chính của UBND thành phố Q về việc không thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 144, tờ bản đồ số 13 tọa lạc tại tổ 7, khu vực 7, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định cho vợ chồng ông T theo quy định và buộc UBND thành phố Q thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nói trên cho vợ chồng ông T theo diện tích thực tế đang sử dụng khoảng 134m2.

Ngoài ra, UBND thành phố Q không có trình bày hoặc yêu cầu nào khác.

3. Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ông Trần Minh P – Phó Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bình Định – Chi nhánh thành phố Q trình bày:

Chi nhánh VPĐKĐĐ Q thống nhất với nội dung trình bày của UBND thành phố Q.

Việc UBND thành phố Q ra thông báo trả hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T vì đang có tranh chấp là đúng quy định; do đó, Chi nhánh VPĐKĐĐ Q không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T yêu cầu Tòa án xem xét hành vi hành chính của UBND thành phố Q về việc không thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 144, tờ bản đồ số 13 tọa lạc tại tổ 7, khu vực 7, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định cho vợ chồng ông T theo quy định và buộc UBND thành phố Q thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nói trên cho vợ chồng ông T theo diện tích thực tế đang sử dụng khoảng 134m2.

Ngoài ra, Chi nhánh VPĐKĐĐ Q không có trình bày hoặc yêu cầu độc lập nào khác.

4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Đào Thị T trình bày:

Bà là vợ của ông Hồ Trọng T. Bà thống nhất với nội dung trình bày và các yêu cầu khởi kiện nói trên của ông T.

Ngoài ra, bà không có trình bày hoặc yêu cầu độc lập nào khác.

5. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Đỗ Thị C và bà Võ Thị L trình bày:

Các bà không thống nhất với yêu cầu khởi kiện nói trên của ông Hồ Trọng T vì hiện nay, thửa đất của gia đình bà và gia đình ông T đang có tranh chấp liền kề và chưa giải quyết xong.

Ngoài ra, các bà không có trình bày hoặc yêu cầu độc lập nào khác.

Tại Bản án Hành chính sơ thẩm số 63/2018/HC-ST ngày 29/11/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định đã quyết định:

- Căn cứ vào quy định tại các Điều 30; Điều 32; Điều 116; khoản 1, điểm a, khoản 2 Điều 193 và Điều 194 Luật Tố tụng hành chính;

- Căn cứ vào quy định của Luật Đất đai ngày 29/11/2013; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc quy định về bản đồ địa chính và Thông tư sổ 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

- Căn cứ quy định tại Điều 29 Luật Tố tụng hành chính; khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Bác yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Trọng T khởi kiện hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định về việc không thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 144, tờ bản đồ số 13 tọa lạc tại tổ 7, khu vực 7, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định cho vợ chồng ông Hồ Trọng T, bà Đào Thị T theo quy định và buộc Ủy ban nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nói trên cho vợ chồng ông T, bà Thi theo diện tích thực tế đang sử dụng khoảng 134m2.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 13/12/2018, người khởi kiện ông Hồ Trọng T kháng cáo Bản án Hành chính sơ thẩm số 63/2018/HC-ST ngày 29/11/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định với nội dung:

- Xem xét lại toàn bộ nội dung của Bản án hành chính sơ thẩm số 63/2018/HC-ST ngày 29 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định;

- Xem xét hành vi hành chính của UBND thành phố Q về việc không thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử đụng đất đối với thửa đất số 144, tờ bản đồ số 13 tọa lạc tại tổ 7, khu vực 7, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định cho vợ chồng ông T, bà Thi theo quy định và buộc UBND thành phố Q thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nói trên cho vợ chồng ông T, bà Thi theo diện tích thực tế đang sử dụng khoảng 134m2.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Ông Hồ Trọng T vẫn giữ yêu cầu kháng cáo, Ông cho rằng: Việc sử dụng đất của gia đình Ông ổn định đã được UBND tỉnh Bình Định cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và đất ở với diện tích đất sử dụng là 130 m2; tuy nhiên thực tế khi đo đạc để làm lại cấp mới giấy chứng nhận thì diện tích có tăng thêm 4 m2 là 134 m2, việc hộ bà Võ Thị L cho rằng hộ của Ông đã lấn chiếm đất của gia đình bà phần hàng rào phía trước và bà L không ký vào biên bản giáp ranh giới để cho Ông làm thủ tục cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không đúng, hộ Ông không tranh chấp đất với hộ bà L; Ông cho rằng Tòa án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của Ông là trái pháp luật; ông đề nghị Tòa án phúc thẩm buộc UBND thành phố Q cấp Giấy chứng nhận mới cho ông với diện tích đất sử dụng là 134 m2; đồng thời đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xử phạt hành chính UBND thành phố Q về hành vi không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ Ông và yêu cầu Tòa án buộc bà Võ Thị L phải bồi thường chậu kiểng cho gia đình ông trị giá 200.000, đồng.

Bà Đào Thị T thống nhất với trình bày của ông T.

Bà Võ Thị L cho rằng ông Hồ Trọng T đã lấn chiếm đất của gia đình bà; do vậy Bà đã không ký vào biên bản tứ cận là hộ giáp ranh cho ông T khi có yêu cầu của ông T; việc tranh chấp đất đai giữa hộ Bà và hộ ông T UBND phường N đã mời hai hộ lên hòa giải hai lần nhưng điều không thành; tại phiên tòa hôm nay bà đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu của ông T vì tranh chấp đất của hộ bà và hộ ông T chưa giải quyết xong.

Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phát biểu ý kiến như sau: Về việc chấp hành pháp luật: Tòa án cấp phúc thẩm đã chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm; về nội dung: Yêu cầu khởi kiện về hành vi hành chính của ông T là không có căn cứ; Tòa án cấp sơ thẩm đã bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T về việc buộc UBND thành phố Q tỉnh Bình Định phải cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất cho vợ chồng ông T và buộc UBND thành phố Q phải cấp giấy chứng nhận mới cho ông T diện tích đất khoảng 134m2 là có căn cứ đúng pháp luật, đề nghị Tòa án phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính bác toàn bộ kháng cáo của ông T, giữ nguyên quyết định bản án hành chính sơ thẩm .

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Hồ Trọng T, thấy: Vợ chồng ông Hồ Trọng T đã được UBND tỉnh Bình Định cấp Sổ chứng nhận quyền sở hữu nhà số 764/CNSH ngày 28/12/1991 thửa đất số 144, tờ bản đồ số 13 tọa lạc tại tổ 7, khu vực 7, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định (diện tích đất 130 m2, ngôi nhà số 327 đường H, thành phố Q, tỉnh Bình Định). Ngày 25/4/2017, ông T nộp hồ sơ đề nghị cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Q phối hợp với UBND phường N đã tiến hành kiểm tra đo đạc hiện trạng thửa đất nói trên của ông T, kết quả đo đạc diện tích tăng so với Sổ chứng nhận quyền sở hữu nhà số 764/CNSH ngày 28/12/1991 do UBND tỉnh Bình Định (diện tích thực tế là:134 m2 so với sổ 130 m2) cấp cho nhà vợ chồng ông T. Quá trình ký tiếp giáp tứ cận (Biên bản ký với các hộ tiếp giáp) có hộ bà Võ Thị L không ký xác nhận ranh giới, mốc giới sử dụng đất nên xảy ra tranh chấp. Bà L có đơn yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết nhà ông T xây tường rào phía trước nhà (mặt tiền) lấn qua phần đất của nhà bà; Ủy ban nhân dân phường N đã tiến hành hòa giải tranh chấp đất đai giữa hộ ông T và hộ bà L hai lần nhưng hòa giải không thành. Vì vậy, ngày 25/7/2017 UBND thành phố Q ra Thông báo số 245/TB-VP về việc trả hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T vì đất đang có tranh chấp là đúng quy định tại khoản 5 Điều 98, Điều 101 Luật đất đai năm 2013; Điều 24a và Điều 70 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.

[2] Tòa án sơ thẩm đã bác yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Trọng T khởi kiện hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định về việc không thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 144, tờ bản đồ số 13 tọa lạc tại tổ 7, khu vực 7, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định cho vợ chồng ông T theo quy định và buộc UBND thành phố Q thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nói trên cho vợ chồng ông T theo diện tích thực tế đang sử dụng khoảng 134m2 là có căn cứ đúng pháp luật. Tại cấp phúc thẩm ông T không cung cấp thêm chứng cứ nào mới khác, do vậy không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

[3] Ông Hồ Trọng T là người cao tuổi, được miễn nộp tiền án phí hành chính phúc thẩm theo quy định điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do đó ông T không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính;

- Căn cứ vào quy định của Luật Đất đai ngày 29/11/2013; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc quy định về bản đồ địa chính và Thông tư sổ 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bác yêu cầu kháng cáo của ông Hồ Trọng T và giữ nguyên quyết định của bản án hành chính sơ thẩm, cụ thể:

1. Tuyên xử:

- Bác yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Trọng T khởi kiện hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định về việc không thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 144, tờ bản đồ số 13 tọa lạc tại tổ 7, khu vực 7, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định cho vợ chồng ông Hồ Trọng T, bà Đào Thị T theo quy định và buộc Ủy ban nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nói trên cho vợ chồng ông T, bà Thi theo diện tích thực tế đang sử dụng khoảng 134m2.

2. Về án phí:

Ông Hồ Trọng T được miễn nộp tiền án phí hành chính sơ thẩm và phúc thẩm.

Hoàn trả cho ông Hồ Trọng T số tiền: 300.000, đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0003521 ngày 20/9/2018 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Định.

3. Bản án hành chính phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


62
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về