Bản án 15/2017/KDTM-ST về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

BẢN ÁN 15/2017/KDTM-ST NGÀY 12/10/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

Trong các ngày 11 và 12 tháng 10 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 13/2017/TLST-KDTM, ngày 24 tháng 4 năm 2017 về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 547/2017/QĐXXST-KDTM ngày 31 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:

Ngun đơn: Bà Võ Thị Thu Hà, sinh năm: 1976 – Chủ doanh nghiệp tư nhânthương mại xây dựng Đại Tín.

Địa chỉ: Số 369, ấp An Hòa, xã An Bình Tây, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

Ngưi đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lê Văn Triệu, sinh năm: 1959 - Có mặt.

Địa chỉ: Ấp An Bình 2, xã An Hòa Tây, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

Bị đơn: Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Cà Mau.

Địa chỉ: Số 176, Phan Ngọc Hiển, khóm 3, phường 6, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Chí Linh, sinh năm 1967. Chức vụ: Giám đốc Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Cà Mau.

Ngưi đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Anh Quách Huy Vũ, sinh năm 1983. Chức vụ: Phó giám đốc Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Cà Mau (theo văn bản ủy quyền ngày 11/10/2017) - Có mặt.

Ni bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Lê Minh Châu là Luật sư của văn phòng luật sư Lê Minh Châu thuộc đoàn luật sư tỉnh Cà Mau - Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Lưu Văn Húa, sinh năm: 1963 - Vắng mặt.

Địa chỉ: Lô số 01, đường Huỳnh Tấn Phát, khóm 5, phường 1, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Ông Trần Thanh Tùng, sinh năm 1963 - Vắng mặt.

Địa chỉ: Số 87, Rạch Rập, khóm 3, phường 8, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án được bổ sung tại phiên toà, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lê Văn Triệu trình bày: Vào ngày 09/01/2014 giữa bà Võ Thị Thu Hà - chủ doanh nghiệp tư nhân thương mại xây dựng Đại Tín (gọi tắt là bà Hà) với Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Cà Mau (gọi tắt là Công ty) có ký hợp đồng thi công số 05 thi công phần điện ngoài sân trường và trong phòng học tại công trình trường Trung học cơ sở Mỹ Nhơn, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Theo hợp đồng thi công số 05 ngày 09/01/2014 thì bà Hà thi công điện ngoài sân trường và trong phòng học với tổng số tiền sau khi giảm các chi phí còn lại là 451.089.540 đồng, thời gian thi công từ ngày ký hợpđồng đến hết tháng 12 năm 2015 và bà Hà đã thực hiện việc thi công đúng theo những điều khoản giao ước trong hợp đồng số 05. Đến ngày 16/6/2015 Công ty đã thanh toán cho bà Hà số tiền 90.217.000 đồng theo hóa đơn giá trị gia tăng số 34 ngày 19/5/2015 và ngày 28/10/2015 Công ty đã thanh toán cho bà Hà thêm số tiền180.434.000 đồng theo hóa đơn giá trị gia tăng số 39 ngày 14/9/2015, tổng số tiềnCông ty đã thanh toán  cho bà  Hà là 270.651.000 đồng,  còn  lại tổng số tiền194.557.040 đồng theo 02 hóa đơn giá trị gia tăng số 44, 45 ngày 04/01/2017 đến nay phía Công ty không chịu thanh toán cho bà Hà. Nay bà Hà yêu cầu Công ty thanh toán cho bà Võ Thị Thu Hà số tiền 194.557.040 đồng. Ngoài ra không yêu cầu gì khác.

Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, được bổ sung tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn anh Quách Huy Vũ trình bày: Hợp đồng số 05 ngày 09/01/2014 không có giá trị pháp lý bởi vì, hợp đồng do ông Trần Thanh Tùng là Phó giám đốc Công ty ký không được sự ủy quyền của Giám đốc; hợp đồng được ký kết trước khi Công ty trúng thầu; mục đích ông Tùng ký hợp đồng này là để khảo sát giá; đồng thời giữa Công ty và ông Lưu Văn Húa có ký hợp đồng giao khoán số 26 ngày 21/7/2014 giao toàn bộ công trình trường Trung học cơ sở Mỹ Nhơn, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre cho ông Húa thi công. Trong quá trình thi công ông Húa làm thủ tục đề nghị Công ty thanh toán tiền vật tư cho các doanh nghiệp nhưng không vượt quá khối lượng thực hiện thì Công ty làm thủ tục chuyển tiền cho các doanh nghiệp. Mặc dù, Công ty đã chuyển tiền cho bà Hà hai lần là do ông Húa đề nghị. Nay bà Võ Thị Thu Hà khởi kiện Công ty để đòi số tiền194.557.040 đồng là không đúng vì nợ này ông Húa có trách nhiệm thanh toán cho bà Hà nên Công ty không đồng ý theo yêu cầu của bà Hà.

Tại biên bản ghi ý kiến ngày 08/6/2017 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lưu Văn Húa trình bày: Vào ngày 09/7/2014, Giữa Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện Ba Tri với Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Cà Mau (gọi tắt là Công ty) có ký hợp đồng thi công xây dựng công trình “Trường trung học cơ sở Mỹ Nhơn, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre”. Đến ngày 21/7/2014, giữa ông và Công ty có ký hợp đồng giao khoán số 26/HĐGK. Khi ký hợp đồng Công ty giao cho ông làm Đội trưởng đội xây dựng số 16 nhận khoán công trình của Trường trung học cơ sở Mỹ Nhơn, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Thời gian thực hiện hợp  đồng  là  540  ngày  kể  từ  ngày  khởi  công  22/7/2014,  ngày  hoàn  thành22/01/2016.  Công  ty  giao   khoán  cho  đội   xây  dựng   số  16  với   số   tiền15.274.661.000 đồng. Sau khi ký hợp đồng giao khoán ông tự mua vật tư để thi công công trình, tính đến thời điểm này giữa ông và Công ty đối chiếu Công ty cònnợ lại ông số tiền 270.000.000 đồng và ông đã nhiều lần yêu cầu Công ty thanh toánsố tiền nợ cho bà Hà nhưng đến nay Công ty vẫn chưa thanh toán xong. Nay bà Võ Thị Thu Hà – Chủ doanh nghiệp tư nhân thương mại xây dựng Đại Tín yêu cầu Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Cà Mau thanh toán số tiền 194.557.040 đồng thì Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Cà Mau phải có trách nhiệm thanh toán cho bà Hà. Trường hợp Công ty dùng số tiền 270.000.000 đồng mà Công ty còn nợ ông để thanh toán số tiền 194.557.040 đồng cho bà Hà ông cũng đồng ý, ngoài ra, ông không có yêu cầu gì khác. Đồng thời, do bận công việc làm ăn ông xin Tòa án cho ông vắng mặt trong các lần Tòa án hòa giải, xét xử vụ án.

Tại biên bản ghi ý kiến ngày 08/6/2017 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh Tùng trình bày: Vào ngày 09/01/2014, ông với tư cách là Phó Giám đốc Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Cà Mau (gọi tắt là Công ty) có ký hợp đồng số 05 thi công phần điện ngoài sân trường và trong phòng học để thực hiện công trình trường trung học cơ sở Mỹ Nhơn, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Tuy nhiên, sau khi có quyết định trúng thầu của Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện Ba Tri, Công ty ký hợp đồng giao khoán với ông Lưu Văn Húa để thi công công trình trên. Tất cả các vật tư do ông Húa chịu trách nhiệm mua và thanh toán, Công ty chỉ thanh toán tiền vật tư khi có đề nghị của ông Húa. Từ khi thi công công trình đến nay ông Húa đã đề nghị và Công ty cũng đã thanh toán cho bà Võ Thị Thu Hà - Chủ doanh nghiệp tư nhân thương mại xây dựng Đại Tín một khoản tiền nhưng ông không nhớ rõ số tiền bao nhiêu. Nay bà Võ Thị Thu Hà - Chủ doanh nghiệp tư nhân thương mại xây dựng Đại Tín yêu cầu Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Cà Mau thanh toán số tiền 194.557.040 đồng thì Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Cà Mau sẽ thanh toán cho bà Hà khi có đề nghị của ông Lưu Văn Húa, ngoài ra, ông không có yêu cầu gì khác. Đồng thời, do bận công việc làm ăn ông xin Tòa án cho ông vắng mặt trong các lần hòa giải, xét xử vụ án.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xửkhông chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật Tố tụng dân sự: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, không có vi phạm gì. Về nội dung, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

1  Về tố tụng: Đối với ông Lưu Văn Húa và ông Trần Thanh Tùng có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xủa vụ án. Bà Võ Thị Thu Hà – Chủ doanh nghiệp tư nhân thương mại – xây dựng Đại Tín (sau đây gọi tắt là bà Hà) khởi kiện Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Cà Mau (sau đây gọi tắt là Công ty). Do đó, bà Hà tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn; đại diện của Công ty tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn trong vụ án là đúng quy định tại Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự. Về loại việc tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án đúng theo quy định tại khoản 1Điều 30, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

2  Về nội dung: Tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa. Quá trình thực hiện hợp đồng, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cho r ng tính đến thời điểm hiện nay, bị đơn còn nợ khoản tiền gốc là 194.557.040 đồng và yêu cầu bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn; còn đại diện theo ủy quyền của bị đơn cho r ng hợp đồng số 05 ngày 09/01/2014 không có giá trị pháp lý bởi vì, hợp đồng này do ông Trần Thanh Tùng là Phó giám đốc Công ty ký không được sự ủy quyền của Giám đốc; hợp đồng này được ký kết trước khi Công ty trúng thầu; mục đích ông Tùng ký hợp đồng này là để khảo sát giá; đồng thời giữa Công ty và ông Lưu Văn Húa có ký hợp đồng giao khoán nên trách nhiệm trả nợ cho bà Hà là trách nhiệm của ông Húa. Hội đồng xét xử xét thấy, lời trình bày của phía đị đơn là không có cơ sở. Bởi lẽ, giữa Công ty với bà Hà có ký hợp đồng mua bán hàng hóa số 05 ngày 09/01/2014 là có thật. Mặc dù, hợp đồng số 05 ngày 09/01/2014 có một số nội dung chưa chính xác nhưng hợp đồng này do Công ty soạn thảo, ký kết trên tinh thần tự nguyện và được bà Hà chấp nhận. Đồng thời, từ khi Công ty ký kết hợp đồng này với bà Hà thì giữa Công ty và bà Hà không có một hợp đồng hoặc văn bản nào để thay thế hoặc hủy bỏ hợp đồng số 05 này, cho nên hợp đồng số 05 ngày 09/01/2017 có giá trị pháp lý và là căn cứ để thực hiện giữa hai bên. Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện hợp đồng Công ty cũng đã thanh toán b ng hình thức chuyển khoản cho bà Hà hai lần với tổng số tiền 270.651.000 đồng, điều này phù hợp với Điều 2 của hợp đồng số 05. Hơn nữa, trong hợp đồng số 05 không có nội dung nào quy định Công ty ký hợp đồng là để khảo sát giá và cũng không có nội dung nào quy định trách nhiệm thanh toán nợ cho bà Hà là của ông Lưu Văn Húa. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn cho r ng nếu thiếu hệ thống điện thì công trình trường Trung học cơ sở Mỹ Nhơn, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre không thể nghiệm thu được và trên thực tế, công trình Trường trung học cơ sở Mỹ Nhơn, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre đã được nghiệm thu và đi vào hoạt động. Vì vậy, bà Hà đã thực hiện đúng theo hợp đồng đã ký với Công ty.

[3] Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn không đặt ra yêu cầu gì đối với số tiền phát sinh khối lượng ngoài hợp đồng là 14.118.500 đồng theohóa đơn giá trị gia tăng số 45 ngày 04/01/2017 (bút lục số 92) và 5% số tiền bảo hành nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4] Đối với Công ty và ông Húa có ký hợp đồng giao khoán nếu có phát sinh tranh chấp thì sẽ khởi kiện thành một vụ án khác.

[5] Từ những phân tích và nhận định trên, yêu cầu khởi kiện của bà Hà về việc buộc Công ty phải thanh toán tổng số tiền 194.557.040 đồng là có căn cứ chấp nhận.

[6] Do Công ty phải thanh toán nợ cho Hà nên Công ty phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch theo quy định. Nguyên đơn không phải chịu án phí, đã nộp tạm ứng án phí được hoàn lại.

7  Hội đồng xét xử, xét thấy đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là không có cơ sở chấp nhận, đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng các Điều 24, 50, 317 Luật thương mại;

- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 30, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39; Điều 68; Điều 147 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết 326 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Thu Hà – Chủ doanh nghiệp tư nhân thương mại xây dựng Đại Tín. Buộc Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Cà Mau phải thanh toán cho bà Võ Thị Thu Hà – Chủ doanh nghiệp tư nhân thương mại xây dựng Đại Tín số tiền 194.557.040đ (Một trăm chín mươi bốn triệu, năm trăm năm mươi bảy ngàn, không trăm bốn chục đồng).

Kể từ ngày bà Võ Thị Thu Hà – Chủ doanh nghiệp tư nhân thương mại xây dựng Đại Tín có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Cà Mau không tự nguyện thi hành xong khoản tiền nêu trên thì hàng tháng phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự 2015.

2. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch: Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Cà Mau phải chịu 9.727.000 đồng (chưa nộp). Bà Võ Thị Thu Hà – Chủ doanh nghiệp tư nhân thương mại xây dựng Đại Tín không phải chịu án phí, ngày 24/4/2017, bà Võ Thị Thu Hà – Chủ doanh nghiệp tư nhân thương mại xây dựng Đại Tín đã nộp tạm ứng án phí 4.863.000 đồng theo biên lai số 3004 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, được hoàn lại khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án  được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


173
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 15/2017/KDTM-ST về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

Số hiệu:15/2017/KDTM-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành:
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành:12/10/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về