Bản án 153/2018/HNGĐ–ST ngày 15/06/2018 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP BIÊN HÒA-TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 153/2018/HNGĐ–ST NGÀY 15/06/2018 VỀ XỊN LY HÔN

Ngày 15 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân TP Biên Hòa có mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 1881/2017/TLST–HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2017 về tranh chấp “Xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 191/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2018.

Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị Ngọc D, sinh năm: 1972. Địa chỉ: 28/2, KP.4, phường Qu, TP. B, tỉnh Đồng Nai. Bị đơn: Ông Nguyễn Ph, sinh năm 1968.

Địa chỉ: 6/4B, KP.5, P. Th, TP. B, tỉnh Đồng Nai.

(Bà D có mặt, ông Ph vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

*Theo đơn khởi kiện ngày 17/8/2017, các lời khai tại hồ sơ và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Đoàn Thị Ngọc D trình bày:

Bà và ông Nguyễn Ph xây dựng gia đình năm 1993, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, TP. B, tỉnh Đồng Nai (Giấy chứng nhân kết hôn số 70/1993 ngày 17/12/1993 của Ủy ban nhân dân phường B, TP. B, tỉnh Đồng Nai). Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian sau này thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, ông Ph hay ghen tuông vô cớ, đánh đập bà. Bà nhiều lần làm đơn xin ly hôn nhưng chưa được giải quyết thì 20/12/2016 ông Phúc cố ý giết bà, bị Tòa án tỉnh Đồng Nai xử 10 năm tù. Hiện ông Ph đang thi hành án. Nay, bà xét thấy không còn tình cảm với ông Ph. Vì vậy bà xin được ly hôn với ông Ph để trả tự do cho nhau.

-Về con chung: Có 02 cháu:

1/ Nguyễn Q, sinh ngày:1995.

2/ Nguyễn L, sinh ngày:30/4/2000.

Hiện các cháu đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa giải quyết.

-Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

-Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

*Tại biên bản lấy lời khai ngày 27/3/2018, bị đơn - ông Nguyễn Ph trình bày:

Ông và bà D xây dựng gia đình năm 1993, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, TP. B, tỉnh Đồng Nai. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Nay bà D xin ly hôn thì ông đồng ý.

-Về con chung: Có 02 con chung:

1/ Nguyễn Qu, sinh ngày:1995.

2/ Nguyễn L, sinh ngày: 30/4/2000.

Sau khi ly hôn thì con có nguyện vọng ở với ai thì người đó có trách nhiệm nuôi, ông không có ý kiến gì.

-Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

-Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả xét hỏi tại phiên tòa. Căn cứ vào phát biểu của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án là chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng:

Bà Đoàn Thị Ngọc D và ông Nguyễn Ph kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn, đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật, được xác định là hôn nhân hợp pháp. Nay có đơn xin ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố B, Tòa án nhân dân thành phố B đã thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét ông Nguyễn Ph là bị đơn trong vụ án có đơn xin vắng mặt hòa giải và xét xử. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về Nội dung vụ án]:

Hội đồng xét xử nhận thấy

[1]Về quan hệ hôn nhân: Bà Đoàn Thị Ngọc D và ông Nguyễn Ph kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn, đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật, được xác định là hôn nhân hợp pháp. Bà D, ông Ph sau khi keát hoân, chung soáng vôùi nhau haïnh phuùc được một thời gian, thì phaùt sinh maâu thuaãn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống.

Thực tế thì mâu thuẫn giữa ông Ph và bà D đã thật sự trầm trọng, vì ông Phúc ghen tuông mà muốn giết bà D, ông bị Tòa án xét xử về tội “ Giết người” và hiện đang thi hành án.

Bà D xin ly hôn, ông Ph cũng đồng ý nên ghi nhận sự thuận tình ly hôn của ông Ph, bà D.

[2]Về con chung: Có 02 con chung:

1/ Nguyễn Qu, sinh ngày:1995.

2/ Nguyễn L, sinh ngày: 30/4/2000.

Hiện các cháu đã trưởng thành nên không đặt ra xem xét.

[1]Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

[4]Về nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét.

[5] Về án phí HNGĐ-ST: Bà D phải chịu tiền án phí xin ly hôn là 300.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Điều Điều 28, 35, 39, 203, 220 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Áp dụng Đều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình.

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị Ngọc D.

-Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Đoàn Thị Ngọc D và ông Nguyễn Ph

-Về con chung: Có 02 con chung:

1/ Nguyễn Qu, sinh ngày:1995.

2/ Nguyễn L, sinh ngày:2000.

Hiện các cháu đã trưởng thành nên không dặt ra xem xét.

- Về tài sản chung và nợ chung: không đặt ra để xem xét.

- Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Đoàn Thị Ngọc D phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Căn cứ vào số tiền tạm ứng án phí bà Hồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 002391 ngày 06 tháng 9 năm 2017 của Chi cuïc Thi hành án dân sự TP. Ba.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.


49
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 153/2018/HNGĐ–ST ngày 15/06/2018 về xin ly hôn

Số hiệu:153/2018/HNGĐ–ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa - Đồng Nai
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:15/06/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về