Bản án 154/2019/HS-ST ngày 03/07/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 154/2019/HS-ST NGÀY 03/07/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 03 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 154/2019/TLST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 154/2019/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

Lê Hữu H, sinh năm 1991, tại tỉnh An Giang. Nơi cư trú: Ấp T, xã H, huyện T, tỉnh An Giang; tạm trú: T1/18 khu phố T, phường G, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hữu B (đã chết) và bà Trần Thị H; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/4/2019 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Công ty TNHH C; địa chỉ: Tổ 1, khu phố T, phường G, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương. Người đại diện hợp pháp: Bà Bùi Ngọc D, sinh năm 1989; địa chỉ 131/14/29/17 đường Trần Thị Hè, phường T, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Đặng Đức T (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Hữu H là nhân viên của Công ty C chi nhánh Bình Dương (sau đây gọi là Công ty), địa chỉ T1/18 khu phố T, phường G, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương. Khoảng giữa tháng 11/2018 H đi vào kho chứa hàng lỗi của Công ty chụp hình kiểu dáng của Laptop nhãn hiệu Stormbook, model SB1401, mã sản phẩm 42-207-VN để đăng lên mạng xã hội rao bán lấy tiền tiêu xài. Sau đó, có 02 người (không rõ lai lịch, địa chỉ) gọi điện thoại cho H để hỏi mua Laptop. Sau khi thỏa thuận xong và hẹn đến khu vực gần siêu thị Aeon Mall Bình Dương giao dịch mua bán.

Đến 07 giờ 45 phút ngày 28/11/2018 H đi vào kho chứa hàng lỗi của Công ty lấy trộm 03 cái Laptop hiệu Stormbook rồi mang về nơi ở của mình tại Công ty (phòng số 07). Sau đó Hồ mang 02 cái Laptop đến khu vực siêu thị Aeon Mall Bình Dương bán cho 02 người đàn ông không rõ lai lịch với giá 3.600.000 đồng (1.800.000 đ/cái). Đến ngày 29/11/2018 Công ty phát hiện bị mất tài sản, trình báo Công an phường Thuận Giao. Qua kiểm tra phòng ở của H phát hiện thu giữ 01 Laptop hiệu Stormbook. Công an đã mời H về trụ sở làm việc H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ: 01 Laptop nhãn hiệu Stormbook, model SB1401, mã sản phẩm 42-207-VN và 01 điện thoại di động hiệu VIVK. Biên bản định giá tài sản và bản kết luận định giá tài sản ngày 05/3/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Thuận An xác định 03 Laptop nhãn hiệu Stormbook trị giá 9.300.000 đồng.

Đối với vật chứng 01 Laptop nhãn hiệu Stormbook, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Thuận An đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà Bùi Ngọc D là người đại diện theo ủy quyền của Công ty C chi nhánh Bình Dương. Đối với 02 Laptop H đã bán Cơ quan điều tra không thu hồi được. Trong quá trình điều tra Lê Hữu H đã bồi thường thiệt hại cho Công ty mà Hồ đã chiếm đoạt. Đại diện Công ty là bà Bùi Ngọc D không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Lê Hữu H. Đối với 01 điện thoại di động hiệu VIVK, qua điều tra xác định chiếc điện thoại này H sử dụng liên lạc để thực hiện tội phạm.

Bản cáo trạng số 166/CT-VKSTA ngày 12/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An truy tố bị cáo Lê Hữu H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Hữu H từ 08 đến 10 tháng tù. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu VIVK.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thể hiện sự ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Lê Hữu H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 07 giờ 45 phút ngày 28/11/2018, bị cáo H đã lén lút lấy trộm 03 cái Laptop hiệu Stormbook của Công ty C chi nhánh Bình Dương, địa chỉ T1/18 khu phố T, phường G, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương mang về nơi ở cất giấu. Sau đó bị cáo mang 02 máy Laptop đến khu vực siêu thị Aeon Mall Bình Dương bán cho 02 người đàn ông không rõ lai lịch với giá 3.600.000 đồng. Ngày 29/11/2018 hành vi của bị cáo bị phát hiện và cơ quan Công an đã thu giữ 01 máy Laptop còn lại giao trả cho bị hại.

Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây mất trật tự tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tư lợi bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; tài sản bị cáo chiếm đoạt theo kết luận định giá có tổng trị giá 9.300.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại; đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo là lao động chính trong gia đình. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

[4] Từ những nhận định nêu trên, xét thấy Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An đề nghị áp dụng mức hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp; tuy nhiên, bị cáo H có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian cũng không gây ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, cho bị cáo được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được hưởng án treo theo Điều 65 Bộ luật Hình sự cũng đủ răn đe và giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại 01 máy Laptop và bị cáo đã bồi thường trị giá 02 máy Laptop cho bị hại. Đại diện bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại hiệu VIVK màu hồng thu giữ của bị cáo có sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

[7] Đối với người mua máy Laptop, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên chưa có cơ sở xử lý, khi nào xác định sẽ xử lý sau.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 173; Điều 47; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Điều 106, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm Hình sự: Tuyên bố bị cáo Lê Hữu H phạm tội Trộm cắp tài sản.

- Xử phạt bị cáo Lê Hữu H 08 (tám) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án 03/7/2019.

Giao bị cáo Lê Hữu H cho Ủy ban nhân dân phường G, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu VIVK, màu hồng. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/6/2019 giữa Công an thị xã Thuận An và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận An).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Hữu H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


15
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 154/2019/HS-ST ngày 03/07/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:154/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuận An - Bình Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 03/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về