Bản án 1546/2012/HCPT ngày 19/12/2012 về việc khiếu kiện quyết định hành chính bồi thường hỗ trợ giải phóng mặt bằng

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 1546/2012/HCPT NGÀY 19/12/2012 VỀ VIỆC KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH BỒI THƯỜNG HỖ TRỢ GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG 

Trong ngày 19 tháng 12 năm 2012 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý sổ 132/HCPT ngày 01/10/2012 về việc "Khiếu kiện quyết định hành chính về bồi thường hỗ trợ giải phóng mặt bằng". Do bản án hành chính sơ thẩm số 138/2012/HCST ngày 14 tháng 8 năm 2012 của Tòa án nhân dân Quận 12 bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2216/2012/QĐ-PT ngày 30 tháng 10 năm 2012 và Quyết định hoãn phiên tòa số 107/2012/QĐPT-HC ngày 07 thạng 12 năm 2012 giừa các đương sự:

Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Xuân, sinh năm 1954 (vắng mặt)

Địa chỉ: 12 đường Tô Ngọc Vân, khu phố 1, phường Thạnh Xuân, Quận 12. Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện ủy quyền: Ông Thân Bình, sinh năm 1948 (có mặt)

Địa chỉ: 79 đường Ý Lan. phường Hiệp Tân. quận Tân Phú. Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bị kiện: Ủy ban nhân dân Quận 12

Địa chỉ: số 1, đường Lê Thị Riêng, phường Thới An. Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện ủy quyền: Bà Trương Thị Kim Chi, Chuyên viên Ban bồi thường giải phóng mặt bàng Quận 12. (có mặt)

Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Xuân.

NHẬN THẤY

Theo ban án sơ thâm:

Người khới kiện bà Nguyễn Thị Xuân trình bày:

Theo bà Xuân, bà sử dụng diện tích đất 725m2 tại phường Thạnh Xuân. Quận 12. từ năm 2004 và được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ờ và quyền sử dụng đất ở số 252. Trong giấy chứng nhận nàv có shi chưa xem xét nghĩa vụ tài chính. Do không có điều kiện thực hiện nghĩa vụ tài chính nên bà đã không được công nhận phần diện tích 725,9m2 - 200nr = 525.9m2 đất. Thực hiện dự án Công trình thủy lợi bờ hừu ven sông Sài Gòn tại phường Thạnh Xuân, bà bị thu hồi một phần đất có diện tích 225,3m2 theo Quyết định số 1090/QĐ-UB ngày 18/3/2002 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 14/5/2009, Ủy ban nhân dân Quận 12 ban hành quvết định số 687/QĐ-UBND-BT về việc bồi thường, hỗ trợ thiệt hại cho bà với số tiền tổng cộng là 31.640.332đồng.

Sau đó. do bà nhận thấy việc nhận tiền đền bù về đất không phù hợp nên bả có khiếu nại quyết định nàv đến cơ quan thẩm quyền. Ngày 10/3/2010. Ủy ban nhân dân Quận 12 ban hành Quvểt định số 18/QĐ-UBND-BT bác khiếu nại của bà. Bà tiếp tục khiếu nại đến Uy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Chu tịch ửv ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã có quyết định giải quyết khiếu nại lần hai, theo Quyết định số 2845/QĐ-UBND ngày 02/7/2010 bác khiếu nại của bà Xuân, công nhận Quyết định số 18/QĐ-ƯBND-TTr của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận 12.

Sau đó. đến ngày 15 tháng 12 năm 2011 bà Xuân khởi kiện tại Tòa án yêu cầu Tòa hủy Quyết định số 687/QĐ-UBND-BT ngày 14/5/2009 của Ủy ban nhân dân Quận 12 và Quyết định số 18/QĐ-UBND-TTr ngày 10/3/2010 của Chu tịch Ủy ban nhân dân Quận 12, yêu cầu bồi thường số tiền tổng cộng tính đến ngày xét xử sơ thẩm tổng cộng là 386.625.750 đồng.

Người bị kiện có bà Trương Thị Kim Chi đại diện úy quyển trình bày:

Quyết định số 687/QĐ-UBND-BT ngày 14/5/2009 của Ủy ban nhân dân Quận 12 và Quvết định số 18/QĐ-UBND-TTr ngày 10/3/2010 của Chủ tịch ủyban nhân dân Quận 12 ban hành là đúng pháp luật và Ủy ban nhân dân Quận 12 Vần giừ nguvên các quyết định này.

Tại bản án hành chính sơ thẩm số 18/2012/HCST ngày 14 tháng 8 năm 2012 của Tòa án nhân dân Quận 12 quvết định:

1/ Bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Xuân về việc yêu cầu tuyên hủy Quyết định hành chính số 687/QĐ-UBND-BT ngày 14/ 5/2009 của Ủy ban nhân dân Quận 12.

2/ Bác yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại của bà Nguyễn Thị Xuân đối với Ủy ban nhân dân Quận 12 với sổ tiền yêu cầu là 386.625.750 đồng.

3/ Đình chỉ việc giải quvết vụ án hành chính đối với yêu cầu của bà Nauyền Thị Xuân về việc yêu cầu hủy quyết định giải quyết khiếu nại số 18/QĐ-UBND-TTr ngày 10/3/2010.

Ngoài ra án sơ thâm còn tuyên về phần án phí, quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 23 tháng 8 năm 2012 bà Nguyễn Thị Xuân nộp đơn kháng cáo bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm.

Người khởi kiện bà Nguyễn Thị Xuân có ông Thân Bình đại diện theo ủy quyền vần giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Ồng Bình yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, hủy Quyết định số 687/QĐ-UBND-BT ngày 14/5/2009 của Ủy ban nhân dân Quận 12. Buộc Ủy ban nhân dân Quận 12 bồi thường đất theo giá 190.000đ/m2, lãi suất đến ngày 20/8/2012. thiệt hại về vật chất tổng cộng là 120.527.916 đồng.

Ý kiến của đại diện Ủy ban nhân dân Quận 12: Việc Ủy ban nhân dân Quận 12 ban hành Quyết định số 687/QĐ-UBND ngày 14/5/2009 về bồi thường, hỗ trợ đối với hộ bà Nguyễn Thị Xuân là đúng trình tự thủ tục quy định và việc Hội đồng Bồi thường giải phóng mặt bàng dự án lập bảng chiết tính bồi thường, hỗ trợ thiệt hại và tái định cư cho bà Nguyễn Thị Xuân là hoàn toàn phù hợp theo quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bà Nguyễn Thị Xuân giữ án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án:

Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Xuân làm trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 176 Luật Tố tụng hành chính. Việc tuân thủ pháp luật của bà Nguyền Thị Xuân.có ông Thân Bình là đại diện theo ủy quyền cũng như của đại diện người bị kiện phù hợp với quy định Luật Tố tụng Hành chính. Đối với những người tiến hành tổ tụng xét thấy trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án trong giai đoạn phúc thẩm là đã tuân thủ đúng quy định của Luật Tố tụng Hành chính.

Về nội dung: Tại tòa bà Chi đại diện cho Ủy ban nhân dân Quận 12 thừa nhận việc ban hành quyết định bồi thường chậm cho hộ bà Xuân là do lỗi của Ủy ban nhân dân Quận 12, loại đất của bà Xuân bị thu hồi là loại đất nông nghiệp nằm xen kẽ trong khu dân cư ở vị trí 1 khu vực 1. Việc bồi thường cho hộ bà Xuân, Ủy ban nhân dân Quận 12 làm theo chỉ đạo của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh nên áp dụng lãi suất để tính bồi thường là gây thiệt hại cho hộ bà Xuân và vi phạm Nghị định 84/2007/NĐ-CP của Chính Phủ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Xuân. Sửa bản án sơ thẩm, huy Quyết định số 687/QĐ-UBND-BT ngày 14/5/2009 của Ủy ban nhân dân Quận 12. về vêu cầu bồi thường thiệt hại, đề nghị Hội đồng xét xử tách ra thành một vụ kiện khác khi đương sự có yêu cầu.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. sau khi nghe các bên trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan diêm, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của bà Nguvền Thị Xuân làm trong hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận.

Về nội dung: Với vêu cầu kháng cáo của bà Nguyền Thị Xuân. Hội đồng xét xử xét thấy:

Nguồn gốc diện tích đất 225,3m2 thuộc thửa 261, 262 tờ bản đồ số 14 (tài liệu 02/CT-UB) tọa lạc tại phường Thạnh Xuân, Quận 12, do ông Nguyền Văn Ất (cha bà Nguyễn Thị Xuân) chuvển nhượng từ ông Nguvễn Văn Kết. bà Nguyền Thị Tý vào năm 1992, sau đó để lại cho bà Xuân sử dụng. Bà Xuân cho rằng năm 2004 bà được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ờ và quyền sử dụng đất ở số 252. Trong giấy chứng nhận này có ghi chưa xem xét nghĩa vụ tài chính. Do không có điều kiện thực hiện nghĩa vụ tài chính nên bà đã không được công nhận phần diện tích 725,9m2 - 200m2 = 525.9m2 đất. Để thực hiện dự án Công trình thủy lợi bờ hữu ven sông Sài Gòn tại phường Thạnh Xuân, bà bị thu hồi một phần đất có diện tích 225.3m2 theo Quyết định số 1090/QĐ-UB ngày 18 3/2002 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 14/5/2009. Ủy ban nhân dân Quận 12 ban hành quyết định số 687/QĐ-UBND-BT về việc bồi thường, hỗ trợ thiệt hại cho bà với số tiền tổng cộng là 31.640.332 đồng. Sau đó. do bà nhận thấy việc nhận tiền đền bù về đất không phù hợp nên bà có khiếu nại quyết định này đến cơ quan thẩm quyền. Ngày 10/3/2010. Ủy ban nhân dân Quận 12 ban hành Quyết định số 18/QĐ-UBND-BT bác khiếu nại của bà. Bà tiếp tục khiếu nại đến Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã có quyết định giải quyết khiếu nại lần hai. theo Quyết định số 2845/QĐ-UBND ngày 02/7/2010 bác khiếu nại của bà Xuân, công nhận Quyết định số 18/QĐ-UBND-TTr của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận 12.

Xét, ngày 18/3/2002, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 1090/QĐ-UB về việc thu hồi và giao đất cho Ban quản lý dự án đầu tư và xây dựng công trình thủy lợi bờ hữu ven sông Sài Gòn tại phường Thạnh Xuân, Quận 12. Ngày 28/5/2004, Hội đồng bồi thường thiệt hại giải phóng mặt bàng dự án công trình thủy lợi bờ hữu ven sông Sài Gòn lập phương án số 863/PA-HĐĐB. Ngày 24/6/2004, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 2939/QĐ-UB về việc duyệt phương án bồi thường. hỗ trợ thiệt hại và tái định cư ở dự án đầu tư xây dựng công trình thủy lợi bờ hữu ven sông Sài Gòn trên địa bàn Quận 12. Nhưng đển ngày 14/5/2009. Ủy ban nhân dân Quận 12 mới ban hành quyết định số 687/QĐ UBND-BT về việc bồi thường, hỗ trợ thiệt hại cho bà Xuân với số tiền tổng cộng là 31.640.332 đồng đối với diện tích đất bị thu hồi là 225,3m2. Như vậy từ khi Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phê duyệt phương án bồi thường đến gần 05 năm sau Ủy ban nhân dân Quận 12 mới ban hành quyết định bồi thường. Tại tòa bà Chi đại diện cho Ủy ban nhân dân Quận 12 thừa nhận việc ban hành quyết định bồi thường chậm cho hộ bà Xuân là do lỗi của Ủy ban nhân dân Quận 12, loại đất của bà Xuân bị thu hồi là loại đất nông nghiệp nằm xen kẽ trong khu dân cư ở vị trí 1 khu vực 1.

Theo qui định tại điểm c khoản 4 Điều 58 của Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ: "Trường hợp đã có quyết định phê duyệt trước ngày Nghị định số 197/2004/NĐ-CP có hiệu lực thi hành nhưng chưa thực hiện chi trả bồi thường, hỗ trợ và tái định cư mà sau đó giá đất cao hơn giá đất đã phê duyệt thì thực hiện điều chỉnh giá đất theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP và khoản 2 Điều 4 Nghị định số 17/2006/NĐ-CP"

Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 9 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính Phủ: "Bồi thường chậm do cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường gây ra mà giá đất tại thời điểm bồi thường do Uv ban nhân dân cấp tỉnh công bố cao hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điềm tra tiền bồi thường: nếu giá đất tại thời điểm bồi thường thấp hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi"

Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 3 của Quyết định số 89/2008/QĐ-UBND ngày 20/12/2008 của Uy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:

b) Bảng giá đất trồng cây lâu năm (Bảng 2)

Đơn vị tính: đồng/m2

Vị trí

Khu vực I

Khu vực II

Khu vực III

Vị trí 1

190.000

152.000

114.000

Vị trí 2

152.000

121.000

100.000

Vị trí 3

114.000

100.000

68.000

Theo quy định tại khoản 4 Điều 3 của Quyết định số 89/2008/QĐ-UBND ngày 20/12/2008 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: "Đối với đất nông nghiệp hằm xen kẽ trong khu dân cư tại các quận chưa được quy hoạch là đất ở hoặc đất phi nông nghiệp khác, thì giá đất được tỉnh bằng 2 lần mức giá đất trồng cây láu năm vị trí 1 khu vực 1"

Vị trí đất của bà Nguyễn Thị Xuân bị thu hồi là loại đất nông nghiệp nằm xen kẽ trong khu dân cư ở vị trí 1 khu vực 1. Như vậy Theo quy định tại điểm b khoản 2 và khoản 4 Điều 3 của Quyết định số 89/2008/QĐ-UBND ngày 20/12/2008 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thì giá đất để tính bồi thường cho hộ bà Xuân: 190.000 đồng X 2 = 380.000 đồng/1m2.

Tại thời điểm Ủy ban nhân dân Quận 12 ban hành Quvết định số 687/QĐ-UBND-BT thì Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ đã có hiệu lực thi hành. Nhưng Ủy ban nhân dân Quận 12 không căn cứ vào Nghị dinh số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính Phủ mà chi căn cứ vào Công văn số 6487/UBND-ĐTMT ngày 28/9/2007 và Công văn số 2618/UBND- ĐTMT nsàv 25/4/2008 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, để tính hỗ trợ thêm lãi suất ngân hàng và bồi thường giá đất 90.000đồng/1m2 đối với hộ bà Nguyễn Thị Xuân là thấp, gây thiệt hại đến quyền lợi của bà Xuân như đã viện dẫn trên.

Từ những nhận định trên, xét Quyết định số 687/QĐ-UBND-BT ngày 14 5/2009 của Ủy ban nhân dân Quận 12 về việc bồi thường, hỗ trợ thiệt hại và bàn giao mặt bàng đối với hộ bà Nguyền Thị Xuân bị ảnh hưởng trong dự án đầu tư và xây dựng công trình thủy lợi bờ hữu ven sông Sài Gòn tại phường Thạnh Xuân. Quận 12 là chưa phù hợp với quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cẩu khởi kiện của bà Xuân là chưa đúng với quy định của pháp luật. Do đó nghĩ nên chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Xuân, sửa bản án hành chính sơ thẩm, hủy Quyết định số 687/QD-UBND-BT ngày 14/5/2009 của Ủy ban nhân dân Quận 12. Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại của bà Nguyễn Thị Xuân. Hội đồng xét xử xét thấy: Nếu bà Nguyễn Thị Xuân có chứng cứ chứng minh về thiệt hại xảy ra. thi bà có quyền làm đơn khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại bằng một vụ kiện khác khi bà có yêu cầu.

Đối với Quyết định giải quyết khiếu nại số 18/QĐ-UBND-TTr ngày 10/3/2010 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận 12. cấp sơ thẩm đã đình chỉ giải quyết do không thuộc đối tượng giải quyết vụ án hành chính là có căn cứ.

Đối với Quyết định số 2845/QĐ-UBND ngày 02/7/2010 của Chù tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về việc giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Thị Xuân. Hội đồng xét xử xét thấy: Sau khi Quyết định số 2845/QĐ-’ UBND được ban hành thỉ bà Xuân đã làm đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án, nên Quyết định số 2845/QĐ-UBND ngày 02/7/2010 của Chủ tịch úy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh không phát sinh hiệu lực thi hành.

Xét lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Xuân, sửa bản án sơ thẩm, hủy Quyết định số 687/QĐ-ƯBND-BT ngày 14/5/2009 của Ủy ban nhân dân Quận 12. Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại, đề nghị tách ra thành một vụ kiện khác khi đương sự có yêu cầu là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí phúc thẩm: Dò yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên bà Xuân không phải chịu.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 190, khoản 2 Điều 205 Luật Tố tụng hành chính;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm c khoản 4 Điều 58 của Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính Phủ;

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 9 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính Phủ;

Áp dụng Quyết định số 89/2008/QĐ-UBND ngày 20/12/2008 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;

Áp dụng Khoản 1 Điều 34; Khoản 2 Điều 37 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12, ngày 27/02/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí. lệ phí Tòa án;

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Xuân;

Sửa bản án hành chính sơ thầm sổ 18/2012/HCST ngày 14/08/2012 của Tòa án nhân dân Quận 12, xử:

1- Hủy Quyết định hành chính số 687/QĐ-UBND-BT ngày 14/5/2009 của Ủy ban nhân dân Quận 12.

2-  Đình chỉ việc giải quyết đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị Xuân đòi hủy Quyết định giải quyết khiếu nại số 18/QĐ-UBND-TTr ngày 10/3/2010 của Úy ban nhân dân Quận 12.

3- Về án phí:

Án phí hành chính sơ thẩm: Ủy ban nhân dân Quận 12 phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng. Hoàn lại cho bà Nguyễn Thị Xuân 200.000 (hai trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 05709 ngày 13/01/2012 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12.

Án phí hành chính phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Xuân không phải chịu. Hoàn lại cho bà Nguyễn Thị Xuân 200.000 (hai trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí đâ nộp theo biên lai số 05957 ngày 24/8/2012 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12.

Bân án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


218
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 1546/2012/HCPT ngày 19/12/2012 về việc khiếu kiện quyết định hành chính bồi thường hỗ trợ giải phóng mặt bằng

Số hiệu:1546/2012/HCPT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hành chính
Ngày ban hành:19/12/2012
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về